Thảm Hoạ Sinh Học

Thảm Hoạ Sinh Học
Thích Theo dõi Đề cử

Thảm Hoạ Sinh Học

Tác giả: William Meyer

Thể loại: Truyện ngắn, kinh dị, hành động.

Tóm tắt: Một nhóm những cảnh sát của thành phố Deaver quyết định lên ngọn núi để điều tra những xác chết kỳ lạ bởi những vết cắn bí ẩn nhưng…

lưu ý: Nghiêm cấm những hành động sao chép đi nơi khác ngoài diễn đàn vnkings nếu chưa hỏi ý tác giả.

Finnigan Smith đang đứng trước một máy bán nước tự động đặt ở mặt tiền một trung tâm nhạc viện, bên cạnh cầu thang đi lên cánh cửa kính đẩy đã đóng và khoá lại, và chờ lon hoa quả của mình rơi xuống bên dưới thùng. Sau đó là một âm thanh như một vật bị rơi xuống đất, anh nhanh chóng lấy lon nước ra khỏi cái khe lấy đồ và mở cái tách, ực một hơi gần hết nửa lon.

Anh đưa ống tay áo chùi miệng, nhìn xung quanh chỗ mình đang đứng là ở một khu đường phố vắng vẻ, chỉ có những ngọn đèn điện bầu bạn giống như những ốc đảo ánh sáng đang soi đường đi. Chúng cách đan xen nhau ở hai mặt đường và soi thành một con đường đi khá dài.

Finn chỉ vừa mới tốt nghiệp trường đại học cảnh sát mới hôm trước, mà hôm nay tất cả những người bạn của anh đã tổ chức một buổi họp mặt để tập hợp, chơi những trò chơi và kể những câu chuyện mình thường gặp ở lớp học, bàn về thầy cô giáo khó tính hay dễ tính hoặc xấu xí như cóc ghẻ hay đẹp như diễn viên. Anh rất phấn khởi, và buổi tiệc đó coi như là một lời chia tay trong suốt những năm học, hi vọng sẽ được gặp lại trong một đơn vị nào đó khi đã gia nhập.

Bầu không khí xung quanh của anh thật tĩnh lặng, chẳng có một chút gió nào cả nhưng anh vẫn cảm thấy hơi lành lạnh. Căn hộ anh ở chỉ còn cách tới nửa tiếng đi đường bộ nên anh không muốn quá trễ thời gian.

Nhìn lên đồng hồ đeo tay thì đã thấy mười một giờ tối rồi.

Finn cố nốc nốt chỗ nước cuối cùng trong lon nhưng chưa hết mà đã ợ ra một hơi lớn, anh bắt đầu di chuyển trên con đường vắng vẻ. Chỉ có một mình Finn cô đơn đi trong buổi ban đêm này nên anh cảm thấy mình cần phải đi nhanh hơn một chút. Cũng có thể một vài tên cướp của nào đấy lên cơn nghiện nên chực chờ anh ở mấy chỗ ngã rẽ vào hẻm vắng thì sao? Anh nhún vai.

Dù sao cũng đang rảnh rỗi, Finn lấy điện thoại và đeo một bên tai nghe lên tai mình rồi mở một vài bài nhạc nào đó hồi thập niên chín mươi. Anh thích nghe những bài nhạc cũ mèm, không thích mấy loại nhạc thịnh hành hiện thời bởi vì những hoà tấu trong nó không hợp với anh. Ngoài ra, một phần nữa là anh còn thích nghe những thể loại nhạc thuộc độc tấu piano như bài Fül Elise, một trong những bài đàn mà anh cảm thấy thích thú nhất của beethoven. Ngoài ra, anh còn nghe của Mozart nữa.

Những bảng phổ nhạc đó được mẹ của anh đàn từ lúc nhỏ. Bà là một con người hiền hậu, không so đo tính toán vật chất, nhưng cũng là một người nghiêm khắc trong việc dạy con mình. Bà dạy Finn làm người như thế nào, phải sống như thế nào mới đúng. Bà đã từng là một người phụ nữ đánh đàn và đi lưu diễn nhiều nơi, nhưng vẫn luôn đặt tình yêu thương, quan tâm đến anh là trên hết. Anh rất quý mẹ anh, nhưng bà đã ra đi sau một căn bệnh ung thư cổ tử cung quái ác. Nó đã cướp đi sinh mạng của mẹ – đối với Finn là vô giá. Anh mong mình sẽ được thế chỗ mẹ hơn là để mẹ mình phải chết như thế. Thật không công bằng chút nào.

Mà đời là thế, cuộc đời đúng thật chẳng công bằng đối với anh. Nó đã cướp rất nhiều thứ từ anh.

Có lần, mẹ của anh hỏi anh lớn lên muốn làm nghề gì, ước mơ của tương lai ra sao. Lúc đó Finn còn nhỏ, nghĩ tới đâu hay tới đó. Những gì mà anh đã thấy chưa được một góc của ba và mẹ anh nữa, nhưng qua những lần được mẹ dẫn đi xem mẹ diễn trên sân khấu của các rạp lớn nhỏ nếu có thời gian và không vướng bận việc học, anh đã rất ngưỡng mộ mẹ mình. Một người phụ nữ mạnh mẽ ngồi trên sân khấu, lướt đôi tay mình trên những phím đàn để đánh ra vô số bài mà chỉ cần nhìn những hình nốt trên một tờ giấy kẻ dòng, kẻ kí hiệu đủ thứ. Anh cũng đã nhờ mẹ mình dạy, mẹ anh đồng ý và làm giảng viên âm nhạc cho anh gần năm năm, rồi sau đó bà đã qua đời.

Finn cảm thấy có lỗi với mẹ của mình. Anh tự hỏi đã bao lâu rồi mình không chạm vào mặt đàn? Những phím đàn mà anh đã chạm tay lần đầu, mẹ anh đã chỉ dạy anh đủ thứ chỉ vì ước mơ làm một nhạc công của anh. Nhưng cuối cùng mọi thứ lại không như ý muốn, ba của anh đã ngăn cấm việc đó, ngăn cấm ước mơ của anh và mong muốn anh trở thành một sĩ quan cảnh sát như ông – một người mà Finn đã chỉ muốn quên đi trong đầu.

Bỗng nhiên có tiếng chuông điện thoại, anh chú ý đến túi quần và lấy cái điện thoại của mình ra. Dưới màn hình nền là con số mà anh đã xoá đi từ lâu với mong muốn cắt đứt mọi liên lạc với ông ta, nhưng bây giờ ông ta lại gọi tới. Cái số mà trước đó Finn đã để tên là “Ba”.

Finn không phải một người lạnh nhạt, dù gì đó cũng là đấng sinh thành của mình. Không có ông ta thì anh chẳng có thể có trên đời và anh cũng chẳng thể sống tới giờ nếu không được ông ta nuôi dưỡng – mẹ anh đã không còn để chăm sóc.

Anh đồng ý nghe cuộc điện thoại này, ngay lập tức mà chẳng cần đấu tranh tâm lý. “Con đấy phải không, Finn?”

Vẫn là tiếng nói thân thuộc đấy, nhưng anh lại chẳng còn cảm giác nào với nó nữa, dù lúc trước cứ mỗi lần nghe tới thì anh lại chỉ muốn nói chuyện nhiều hơn, kể về những vụ án bắt cướp, điều tra của ba mình hơn.

Gương mặt của Finn bỗng cúi thấp xuống, quăng luôn cả lon nước cam còn nước vào sọt rác bên cạnh máy bán hàng và tìm một cây cột để tựa lưng vào.

Anh cười lạnh nhạt, nói, “Vâng, là con đây, chào ba.”

Bên kia lại nói vọng lại, “Dạo này con khoẻ chứ? Tiền của ba gửi có đủ dùng không?”

Giọng nói xem ra vui vẻ hơn là bầu không khí ảm đạm bao quanh bên đầu dây còn lại, nhưng cũng có phần nghe hơi lo lắng.

Finn nói, “Con cũng khoẻ, điện nhà ít dùng nên không đóng nhiều. Với lại con ăn thì ít, số tiền ba gửi vẫn còn dư kha khá.”

“Vậy à!” Nghe như có một tiếng thở dài sầu não bên đó.

“Lâu lắm rồi con không gọi cho ba, lúc này đang rảnh rỗi nên ba muốn nói chuyện một chút.” Ông bỗng cao giọng phấn khởi, như thể để Finn cũng sẽ làm theo giống ông. “Con không cảm thấy phiền chứ?”

Finn nói, nhăn mặt. “À không sao đâu! Con cũng đang trên đường về nhà. Mà đi bộ một mình cũng chán, có người nói chuyện với nhau sẽ vui hơn.”

Dù nói thế, anh vẫn thích vừa đi bộ về nhà vừa nghe nhạc thì hơn. Đôi chân anh bắt đầu bước dài để rút ngắn thời gian cũng như giảm những bước đi để tới căn hộ.

Bên kia lại nói, “Vậy à, đường con đi có đông người không đó. Nhớ là đừng đi ở những chỗ vắng, dễ gặp cướp lắm đấy.”

“Không sao đâu ba, con dù sao cũng đã là một…” Finn bỗng cứng họng, anh định nói anh là một “cảnh sát” trên danh nghĩa vừa ra trường, sẽ còn một khoá đào tạo tập sự, nhưng Finn lại không thể thốt ra từ cấm kỵ đó đối với anh và ba anh khi nói chuyện với nhau. Hay đúng hơn là chỉ có anh phản cảm với nó khi nói chuyện với ba mình.

Giọng ba của anh chợt lo lắng:

“Con sao vậy?”

Finn lựa lời, kiếm một cớ nào đó. “Con chỉ đau bụng xíu thôi.”

“Vậy à, nhớ là không được ăn bậy gì hết đó.”

Finn bỗng nhiên cảm thấy có một luồng điện tức giận chạy dọc từ dưới lưng lên khiến anh rùng mình và muốn thét lên “Ba không có quyền mà quản lí con nữa.” nhưng anh đã kiềm lại được. Anh không muốn mình giống một thằng trẻ con ngu ngốc nào đó chỉ vì chút chuyện nhỏ nhặt mà lại hoá to ra. Anh đã là một người trưởng thành, anh biết suy nghĩ, anh sẽ không hành xử ngu ngốc theo kiểu đóng cửa phòng một cái rầm lớn tỏ thái độ, khoá chốt cửa như lúc nhỏ nữa.

Finn hít thở một hơi thật sâu, nói, “Vâng thưa ba. Nhưng con cũng chẳng có ăn đồ ăn vặt đường phố hay đồ ăn nhanh gì cả. Ba nhớ là từ trước đến giờ, ngay cả gà KFC, khoai tây, hăm bơ gơ con cũng đều chưa bao giờ đụng đến mà.”

“Ừ, ba chỉ nói vậy thôi. Ba sợ con ăn cái gì đó tầm bậy tầm bạ để rồi đau bụng mà rước hoạ nữa. Làm nghề “cảnh sát” thì cần có một sức khoẻ tốt để có thể làm nhiệm vụ.”

“Đó chỉ là những gì ba muốn, con không thích!” Finn tự nghĩ trong lòng, nhưng khi tuông ra từ miệng thì là. “Con biết là ba rất quan tâm đến con mà. Nhưng ba cũng cần giữ gìn tốt sức khoẻ của bản thân đấy.”

“Ba biết rồi. Mà nghe nói con đã tốt nghiệp hai ngày trước đúng chứ?”

Finn đáp, “Vâng thưa ba. Rồi có chuyện gì không mà ba lại hỏi chuyện đó?”

Bên kia nói, “Không, không có gì! Chỉ là ba cảm thấy hơi có lỗi khi mà lúc đó ba đang bận công việc nên không thể đến trường chúc mừng con được.”

Finn nói giọng an ủi, “Không sao đâu ba, con cũng còn các bạn khác ở đó, họ cũng khá thân với con.”

Tuy nói như vậy nhưng Finn vẫn nghĩ và mừng thầm trong bụng là ba mình không đến buổi lễ tốt nghiệp đó. Nếu không thì trung tâm của sự chú ý sẽ thuộc về mình rất nhanh. Anh khá ghét điều đó vì anh thường bị so sánh với ba của mình – một sĩ quan cảnh sát cấp cao.

“Đúng là ba nào con nấy, cậu giống ông ấy lắm.”

“Con nhà tông, ba cậu là một thanh tra cao cấp thì thế nào sau này cậu cũng sẽ như thế. Hai người giống nhau thật đấy.”

“Đừng so sánh tôi với ông ta, đó là một kẻ giết người. Chính ông ta đã giết mẹ tôi. Nếu lúc trước, ông ta không vì cái công việc khốn nạn này thì ông có thể đến và chúc mẹ tôi may mắn trước khi vào phòng mổ, bà chắc chắn sẽ không chết. Nếu không tại ông ta, một gã đàn ông không quan tâm đến gia đình, một người ba vô tâm, một người chồng không để ý đến cảm xúc hay hạnh phúc của vợ mà chỉ làm theo ý mình, một kẻ ngốc tự cho mình là đúng. Chính ông ta đã vạch con đường đi làm ngành cảnh sát cho tôi, nhưng dù tôi có không đồng ý thì ông ta vẫn bắt buộc. Một tên độc tài gia đình, một người đàn ông bảo thủ đã cướp đi giấc mơ của con mình, cướp đi sinh mạng của mẹ tôi.” Finn nhớ lại những gì lúc đó mình nghĩ.

Bên kia lại nói, “Được vậy cũng tốt. Ba không muốn là con bị trầm cảm hay mắc bệnh gì đó.”

“Con là con…” – Của ba – “Làm sao mà con có thể mắc bệnh được khi con chưa bao giờ ăn đồ gây hại cho sức khoẻ? Ba đừng lo xa quá. Còn bệnh trầm cảm thì trước giờ ba có thấy con bị bao giờ đâu. Đúng chứ?” – Đã bị rồi.

Finn nghe thấy bên kia cười. “Ừ, rồi, rồi, nhưng dù sao ba cũng chỉ muốn nhắc nhở con mà thôi…”

Bỗng nhiên từ bên kia có một tiếng nói cắt ngang cùng một tiếng dậm đất mạnh “Thưa chỉ huy, chúng ta đã chuẩn bị xong, giờ có thể lên núi để huy động tìm kiếm những xác chết và đem về kiểm tra.”

Một tiếng thở dài sườn sượt, Finn biết rằng rõ ràng ông ta không muốn bị cắt ngang cuộc nói chuyện với con trai của mình. Nhưng ông ta cũng không biết rằng người ở đầu dây bên kia, đang nói chuyện với ông, con của ông rất ghét cuộc nói chuyện dài dòng khó chịu này. Không phải vì Finn không thích nói chuyện với ai đó, nhưng đối tượng cũng là một thứ mà anh để mắt tới. Với ba anh: càng ngắn gọn càng tốt, anh ghét nhìn mặt ông ta, ghét giọng nói của ông ta.

Ngay khi có cơ hội để dừng cuộc nói chuyện, Finn nói một giọng buồn bã giả tạo. “Ôi trời, con còn muốn nói chuyện nhiều hơn nữa nhưng ba phải đi làm nhiệm vụ rồi. Nên mình để giành dịp khác rồi nói tiếp được chứ?”

“Thôi được, con phải giữ gìn sức khoẻ đấy. Không được…”

Finn ngắt lời, “Con đâu còn nhỏ nữa. Giờ con cũng là một thanh niên hai mươi bốn tuổi rồi chứ đâu ít gì.”

Ba anh nói giọng buồn bã, “Ba chỉ muốn nhắc nhở con thế thôi. Vậy thôi, tạm biệt con.”

“Tạm biệt ba!”

Finn ngay lập tức dời điện thoại khỏi tai mình và tắt nó, chấm dứt cuộc nói chuyện may mắn vì có một ai đó đã xen vào để báo cáo một nhiệm vụ nào đó mà anh không biết, cũng như không muốn biết. Nhưng mà việc đó đã cứu thoát lỗ tai anh, ba của anh chắc chắn sẽ còn lải nhải về việc anh như thế này, thế nọ khá nhiều trước khi cúp máy.

Ông ta rõ ràng không coi anh là một người con, là một con rối để ông có thể điều khiển cuộc đời thì đúng hơn. Đúng thế, Finn không khác gì một thứ mà để ông có thể tự hào với bản thân và mọi người là “Con tôi sẽ trở thành một sĩ quan cảnh sát giống như tôi”.

“Tuyệt vời thật đấy!” Finn nói, lạnh lùng nhìn cái điện thoại vừa tắt rồi bỏ vào túi.

Cuộc nói chuyện này đúng thật cũng đã giúp ít cho Finn rất nhiều, anh bị cuốn vào nó và cho tới lúc kết thúc thì căn hộ cũng đã trước mắt anh. Nó tối đen, chẳng có miếng đèn nào cả, căn hộ được xây dựng từ hàng chục năm trước nên trông nó cũng đã khá cũ kỹ vì lớp sơn tường bong tróc, váng nhện thì khắp ở các khe hốc, bất cứ chỗ nào chúng có thể phun tơ để làm tổ.

Hay thay khi Finn là một người sạch sẽ, nhưng dù thế anh cũng chẳng có thời gian để tổng vệ sinh bên ngoài ngôi nhà – đa phần là trên các bức tường – mà chỉ toàn có thể vệ sinh lại toàn bộ bên trong. Nên khi nhìn vào cái căn hộ được thuê này từ bên ngoài thì khó để xác định tính cách của chủ thuê nó luộm thuộm dơ bẩn hay ngăn nắp, sạch sẽ.

Finn bước lên căn hộ và tra chìa khoá vào cửa, anh để ý thấy một mảnh giấy được dám trên cửa, nâng tay lên và gỡ nó ra. Đôi mắt anh đảo nhìn những con chữ trên giấy “Ngày mai là tới hạn tiền thuê nhà” rồi sau đó tìm tiếp tục mở cửa.

Finn lẩm nhẩm:

“Ngày mai lại tới hạn đóng tiền nhà.”

Ngay khi vào trong nhà, anh đóng cửa chính mặt tiền, khoá nó lại, cởi cái áo khoác nóng nực và treo ngay cây treo quần áo cạnh cửa, rút đôi chân khỏi đôi giày mà anh đã mang trong gần như nguyên cả ngày nay và đi vào trong nhà. Mất một lúc để anh lựa chọn cho mình đi vào nhà bếp trước hay đi vào phòng nghỉ để rồi…

Finn đi vào nhà bếp, tự rót cho mình một cốc nước và uống sạch nó, sau đó mở tủ lạnh, quan sát bên trong rồi lấy ra một hộp thịt bò chín còn ăn dở từ nhiều ngày trước. Cũng vì chỉ có mình anh mà lúc đó anh lại lỡ tay làm đồ ăn nhiều quá, hậu quả là mấy hôm nay Finn phải ăn thịt bò xào rau muống cũ. Nhưng may mắn là nó ngon miệng, không đến nỗi quá tồi. Anh lấy ra thêm một hộp nhựa toàn cơm nhạt và đổ nó ra một cái tô, cùng với hộp thịt bò là một cái dĩa. Mở máy quay thức ăn rồi cho chúng vào trong. Sau đó anh đặt chế độ ba phút rồi bắt đầu khởi động. Cái máy quay thức ăn giống như là một cái hộp lớn và cửa mở thì mỗi lần mở ra hay đóng vào đều khá ồn nên Finn không thường dùng cho lắm nếu anh bắt buộc muốn hâm thức ăn nhanh chóng.

Trong lúc đợi ba phút trôi qua thì Finn mở điện thoại, nghe lại đoạn nhạc Rondo Alla Turca đang dở vì cuộc gọi của ba anh cắt ngang. Âm nhạc nhanh chóng cuống lấy Finn, anh lắc lư theo nhịp điệu nhạc, miệng ngâm nga, hoà lẫn vào trong đó như nó là một phần cơ thể của anh. Anh cảm nhận thấy điều đó, và đó là một đam mê của một đứa trẻ thích âm nhạc. Tuy đã khá lâu kể từ lần cuối anh chạm tay lên đàn, anh vẫn mua cho mình một cây đàn từ số tiền tích góp được của việc đi làm thêm và đôi lúc nhịn ăn từ số tiền của ông ta để có thể mua. Và hôm nay nó đã được giao tới.

Finn bước vào một căn phòng nhỏ, nơi mà anh quyết định sẽ giống như một chỗ linh thiêng để dịu mát tâm hồn mình bằng những khúc nhạc vang lên từ đôi tay anh đánh những phím đàn tuyệt vời. Finn cũng đã mua một cuốn sách nhạc gồm nhiều bài để nhìn vào và đánh nó lên. Căn phòng có diện tích chỉ bằng một cái ga ra để một chiếc xe, nên khi đặt một bàn đàn piano vào thì nó gần như chẳng còn bao nhiêu lối đi cả. Trên những cái kệ được đóng vào tường thì Finn đã cố ý trang trí chúng gồm những tâm hình của mẹ anh và anh, những tấm hình có cả ba anh thì anh đã dùng kéo để cắt gương mặt ông ra khỏi đó. Finn đi đến, cầm một trong những tấm ảnh lên và nhìn buồn bã. Tấm ảnh được gắn trong khung được chụp lại khoảnh khắc anh và mẹ mình đã le lưỡi cười đùa, một tấm ảnh được chụp với chủ đề dễ thương. Anh nhớ là lúc đó anh cùng mẹ đi chơi sở thú – ba anh bận việc nên không đi được – và họ đã rất vui vẻ ngày hôm đó. Cùng chọc những con thú vật, cho voi ăn mía, câu cá xấu bằng thịt sống, cưỡi đà điểu,… Finn còn bị con đà điểu mổ cho một cái đau điếng nữa. Anh đặt tấm ảnh xuống và lấy một tấm ảnh khác, trong ảnh là cậu bé quen thuộc đang ngồi trên đùi mẹ của mình, người ba bên cạnh đã bị cắt mất khỏi tấm ảnh. Nhưng mẹ anh đang cười rất tươi, anh ôm mẹ và dụi mặt vào lòng: Đó là lúc họ đột nhiên nảy ra ý định chụp một bộ ảnh gia đình.

Finn từ tươi cười, bỗng nhiên buồn bã hẳn đi. Một chuyển biến tâm trạng khó hiểu mà anh không thể nào lí giải nỗi dù là do bản thân anh. Finn bước đến bên cạnh bàn chơi đàn piano hiệu Baldwin, một thương hiệu nổi tiếng nhất đất nước mà tay chủ tiệm nhạc cụ đã giới thiệu cho anh. Những nốt âm bấm lên với cường độ âm cực tốt và có bảo hành suốt mười năm liền, một món hời với hai trăm năm mươi ngàn đô la Mỹ. Mặc dù thế, nó vẫn không bằng thương hiệu tốt nhất thế giới mà mẹ anh vẫn hay dùng là Steinway. Finn đã từng thử chơi chiếc đàn của mẹ anh, anh biết điều đó. Nhưng mọi thứ sụp đổ một lần nữa khi ba của anh đã bán chiếc đàn đó sau hai năm mẹ mất.

Anh hận thấu xương khi không thể cắt đứt tình ba con với ông ta. Alex Smith, bỗng nhiên anh nhớ tới tên ông ấy trong suốt nhiều năm đã quên nó. Chính ông đã chăm sóc anh “một nửa” bằng cách gửi tiền về và tự anh phải tự chăm sóc bản thân “một nửa” để trọn vẹn và hoàn chỉnh nó. Ba của Finn đã cho thấy ông ta là một người có trách nhiệm với con của mình và vợ ông. Nhưng những hành động sai lầm mà ông gây nên là quá lớn và nó quá nhiều với Finn để anh có thể tha thứ cho ông ta.

Một tiếng “bín boong” lớn đã cắt đứt dòng suy nghĩ của anh, anh nhìn chiếc đàn piano một lần nữa, trượt dài những ngón tay mình trên mặt bàn ở bên trên, cạnh những phím đàn rồi đi ra ngoài, đóng cửa lại.

Finn quay trở lại nhà bếp, lấy cơm và thịt bò xào rau muống đã nóng hổi từ bên trong lò và đặt ra một măm cơm. Sau đó anh lấy thêm một ly nước và mở tủ lạnh, cầm cái bình nước bên dưới ngăn cửa rồi rót vào ly, xong xuôi thì để lại chỗ cũ và đóng tủ lạnh lại.

Anh mang tất cả ra phòng khách, giờ này vẫn còn khá sớm đối với Finn nên anh muốn mình được tận hưởng một chút khi vừa ăn tối vừa xem ti vi. Anh tìm cái remote điều khiển và mở ti vi lên, nó đang chiếu một kênh tin tức. Finn cũng khá thích xem tin tức, thời sự nên anh đã không chuyển kênh mà đặt cái remote xuống. Lấy tô cơm đã nguội đôi chút và chậm rãi mút từng thìa ăn, mắt thì nhìn màn hình ti vi.

Một cô phóng viên đang đứng giữa những nhóm người tò mò, la hét muốn được lên núi. Finn để ý thấy đúng là thế, đằng sau cô phóng viên là một ngọn núi khá to. Anh còn nhìn xuống bên dưới địa điểm. Núi Artoon, nằm phía bắc, cách không xa thành phố Deaver khoảng hai mươi kí lô mét.

Cô phóng viên nói một tràn dài những gì mà mình đã soạn ra:

“… Những người mất tích hiện vẫn đang được tìm kiếm.

“Và bây giờ là bảng tin tiếp theo.

“Vào khoảng bảy giờ sáng ngày 29/08/2001, một người đàn ông có tên Bryan Thomas đi dạo lên núi cùng chú chó corgi của mình. Giữa chừng thì chú chó của ông có biểu hiện lạ khi nó đã kéo ông Bryan ra xa khỏi con đường chính mà hai người hay đi. Nhưng ngay sau đó ông Bryan phát hiện ra nhiều xác chết đã bị cắn xé một cách dã man và nằm rải rác bên dưới những thân cây, bãi đất trống.

“Trước đó nữa thì người dân sống dưới chân núi đã phản ánh việc bỗng nhiên có một mùi hôi thối nào đó chiếm lấy nhà họ khiến họ không thể sinh hoạt như bình thường mà phải xịt thuốc khử mùi rất nhiều. Điều đó làm ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ của người dân.

“Hiện tại các cơ quan chức trách và bộ phận cảnh sát thành phố đã vào cuộc để tìm hiểu nguyên nhân của sự việc. Theo suy đoán ban đầu thì tất cả những nạn nhân của vụ cắn xé đều là do những con chó rừng gây nên. Vì chúng bị bỏ đói quá lâu nên bản năng hoang dã đã khiến chúng tấn công con người và gây nên thảm kịch. Chúng tôi khuyên những người đang có ý định leo núi Artoon thì nên dừng lại dù cho đây có là lịch trình đường đi hay bất cứ những lí do nào khác, cảnh sát cũng đều không chấp nhận.

“Tôi là phóng viên Kelly Robinson, xin kết thúc bảng tin hôm nay.”

Finn cảm thấy không hứng thú với chuyện này lắm vì anh thường nghe nhiều rồi, nào là: Giết người giấu xác trong nhà suốt nhiều năm, ngộ sát bằng cách làm rơi thanh thép xây dựng xuống đầu, tai nạn giao thông làm hàng chục người bị thương và nhiều người chết, nhảy lầu tự vẫn vì áp lực học hành,…

Mọi tin tức cứ nói đi nói lại cứ như thịt bò đã bị xào nấu, biến tấu nhiều lần khiến anh cảm thấy chẳng hứng thú chút nào dù cho việc nào cũng chỉ mới diễn ra, nhưng nó cách xa anh ở, lũ chó dại đó chắc chắn sẽ chẳng thể tới mà tìm kiếm mình tại nhà.

Anh rà đài một hồi thì thấy phim truyền hình Doctor Who đang phát sóng nên đã xem nó cho đến khi ăn xong hết cái món cơm hơi nhão vì nấu nhiều nước cùng thịt bò thì tắt ti vi. Đem chúng trở lại nhà bếp, Finn rửa sạch rồi để chén dĩa vào một cái rổ gần sàn nước cho ráo rồi anh rời nhà bếp và đi lên lầu.

Dù cho Finn không cảm thấy đau nhức gì nhưng khi anh xoay người thì có tiếng răng rắc của xương hông – không phải gãy – rồi anh soạn cho mình một bộ đồ ngủ. Dù là đang mệt mỏi, mắt của anh mở cũng chẳng lên nổi nhưng Finn vẫn có thể đi tắm rồi mới lên giường, đánh một hơi thật sâu cho tới sáng hôm sau và bắt đầu đi đến sở cảnh sát để nhận quân phục “cảnh sát tập sự”.

Finn đánh răng tối xong, anh cởi hết áo quần thì liền ngâm mình trong bồn nước nóng hổi và cho ít hương liệu thơm nồng vào. Trông bây giờ nó như một suối hồ nước nóng cỡ nhỏ hơn chỉ là bồn tắm. Dòng nước nóng từ trên vòi anh đã tắt còn rỉ rỉ nước xuống để vắt kiệt nó. Finn cảm thấy rất thoải mái, anh còn dùng nhạc để tăng thêm và nó khiến anh rùng mình, nỗi da gà.

Finn nở một nụ cười, gác tay hai bên thành bồn, tận hưởng làm nước lắng đọng, âm ấm và nhìn ra ngoài cửa sổ, phía trên một cái gương soi. Phía bên ngoài là bầu trời đêm trông thật bắt mắt với những ngôi sao, và…

Một sao băng đã bay xẹt ngang, nở một nụ cười với chàng trai ngâm mình trong bồn tắm.

**********

Alex Smith đang ngồi bên trong một chiếc xe cảnh sát hú còi báo động khá lớn, ông đã là một thanh tra cao cấp của sở cảnh sát thành phố Deaver trong những năm qua và đang trên đà được tiến cử trở thành phó giám đốc sở cảnh sát.

Ông tự nhận rằng mình là một con người tham vọng, mong muốn được thăng chức nhanh chóng nhưng trong nhiều năm nay để vuột mất nên ông đã khá bực bội và thiếu kiên nhẫn. Gương mặt Alex hằn sâu những nỗi buồn bực của nhiều thứ.

Ông đã là một người ba, một goá chồng – một đời vợ – chính hiệu khi vợ ông đã không còn. Người phụ nữ mà ông yêu thương nhất đã chết vì bị một căn bệnh ung thư quái ác. Đầu tiên là nó cướp lấy sức khoẻ của bà, sau đó là đến mái tóc suông mượt mà ông thường chải giúp vợ mình mỗi đêm, tiếp đó là nhẫn tâm đoạt luôn mạng sống của người phụ nữ mà ông yêu quý.

Alex cảm thấy mình là một người đàn ông khốn khổ nhất thế gian này. Trước khi cưới được một người vợ hiền thục, tốt bụng và biết quan tâm đến chồng thì ông là một kẻ nghiện rượu, ăn chơi trác táng và có một cuộc đời không mấy tốt đẹp với ba và mẹ ông. Họ là những con người quan tâm tới Alex, yêu thương ông, nhưng suốt ngày bên trong căn nhà đó toàn là những lời chửi rủa từ cả hai bên đối với nhau bởi vì nhiều chuyện chẳng ra làm sao. Sau đó đỉnh điểm là cái chết của người mẹ chỉ vì một lí do ghen tuông từ bà – thật lố bịch đối với ông. Chỉ vì mẹ của ông ngửi thấy mùi nước hoa phụ nữ, máu ghen tuông chực chảy trong người mà chửi mắng chồng mình, sau một trận ẩu đả kịch liệt. Mẹ của ông đầy những vết thương trên người, bà đã lợi dụng lúc chồng mình đi làm thì tìm cách lừa con mình uống bã chuột cùng bà để tự sát. May mắn thay là bà đã bỏ quá ít bã chuột trong ly nước cam của Alex rồi tự mình nốc chỗ bã chuột còn lại, và sau đó thì một cô hàng xóm kế bên nhà vừa đi chơi du lịch về liền đem tặng cho nhà ông một vài món quà lưu niệm mà họ đã mua được. Cô ta thấy cửa không khoá, nhà lại tối đen nên cũng tò mò mà bước vào trong thì liền thấy ông và mẹ của ông đang nằm bất động trên ghế sô pha, miệng sùi bọt mép chảy đầy cằm. Sau đó liền gọi cấp cứu và đưa hai người tới bệnh viện. Sinh mạng của Alex đã được cứu sống, còn mẹ ông thì không được may mắn như vậy, bà đã chết, một cái chết đau đớn, tức tưởi chỉ vì cơn ghen nhất thời và nghĩ quẩn một cách ngu ngốc. Cũng chỉ vì tính cách lố bịch của bà, một người phụ nữ thô lỗ, hay hờn ghen dù chồng mình luôn chăm sóc mình, không bỏ mình đi.

Nhất thời vào những lúc đó, Alex không hiểu vì sao ba lại không rời xa mẹ dù bà luôn làm ông ta khó chịu, luôn là nguyên nhân của những trận cãi nhau, ông vẫn thường quan tâm – không quá quan tâm như lúc mới cưới – tới bà, nhưng đối với Alex thì phần đó lại trở thành yêu thương quý giá. Tới những lúc lớn lên và trở thành một người trưởng thành thì ông mới hiểu ra rằng ba của mình lúc đó đúng thật là chẳng còn tình cảm gì với mẹ nữa. Những cử chỉ quan tâm, lời nói đường mật với bà là giúp ba ông có thể ở bên cạnh con của mình lâu hơn, chăm sóc cho con mình tốt hơn. Vì nếu chiếu theo luật pháp thì người vợ sẽ dễ có khả năng giành con nhiều hơn, và ông ấy sẽ lấy nửa tài sản của hai vợ chồng, nhưng ông ta sẽ mất Alex, một cái giá quá đắt và theo đúng ra thì phần thiệt sẽ thuộc về ba của ông.

Cuối cùng, bây giờ Finnigan, con của ông đứng trước nguy cơ cũng sẽ có một cuộc đời như người ba của nó. Alex không muốn con của mình như thế, ông rất yêu quý vợ của mình, nhưng có những chuyện mà cả hai đều chẳng đồng tình với nhau, “Dấn thân vào làm một nhạc công…” ông cũng đã tìm hiểu rất nhiều. Đó là một công việc khó khăn, dù tiền lương của mỗi buổi trình diễn có đắt như thế nào, làm cho Finn nổi tiếng được như vợ ông là một điều chỉ có hai mươi lăm phần trăm. Ông cũng đã thử đưa vợ mình vào công cuộc PR con mình để xem, nhưng cuối cùng ông vẫn không đồng ý dù nó có khả quan hơn khá nhiều. Nỗi lòng của người ba, đúng, đó là lời biện hộ của ông để có thể che lấp đi mọi thứ mà ông đã làm sai đối với con mình.

Alex biết rằng mình đã quan tâm quá nhiều đến Finn và khiến thằng bé có ác cảm với ông. Cũng vì thứ được gọi là – trực giác của một người ba mách bảo mà bao năm nay Finn luôn đối xử với ông một cách giả tạo. Lúc nãy, ở tại bàn làm việc của sở cảnh sát, ông biết rằng Finn chỉ muốn cúp máy ngay lập tức, nhưng thằng bé chắc hẳn nghĩ rằng mình mang ơn ông nên đã nhận cuộc gọi chứ chẳng vui vẻ gì. Tuy rằng lúc ông nói chuyện với Finn, thằng con của ông luôn tỏ ra vui vẻ trong những câu nói, nhưng điều đó khiến ông thấy thật không tự nhiên. Ngay khi có cơ hội thì thằng bé đó liền viện cớ để cúp máy, nhưng liệu nó có nghĩ rằng nếu đây là lần cuối cùng mà nó và ông có thể nói chuyện với nhau? Lỡ có một lúc nào đó mà ông chết trong khi đi làm nhiệm vụ thì nó có cảm thấy gì không? Có thấy hối hận khi bản thân chẳng quan tâm gì đến ba mình không? Chắc chắn là có, ông tin chắc vậy, đó gọi là tình phụ tử. Và ông sợ điều đó, sợ cái viễn cảnh tăm tối mà con ông sẽ hối hận, nó có thể sẽ giống mẹ ông, nó sẽ t… KHÔNG! Nó là một người kiên cường, nó sẽ không ngu ngốc đến vậy. Finn chấp nhận sống cùng với Alex trong suốt bao lâu nay mà chẳng kêu than gì cả dù nó luôn muốn làm thế, nó là một đứa trẻ biết tự kiềm chế cảm xúc mình lại. Bây giờ nó đã có thể tự mình làm ra tiền, tự nuôi sống bản thân, nó sẽ không cần đến thăm ông nữa. Điều đó khiến ông đau lòng, nhưng cũng vui mừng vì nó là một đứa trẻ hiểu chuyện, trưởng thành. Lúc ãy ông còn nghĩ nó sẽ thét vào mặt ông “Đừng gọi điện thoại cho tôi nữa!” rồi cúp máy ngang, nhưng nó lại không làm thế. Alex cảm thấy hãnh diện vì điều đó, vì điều đó nói lên rằng ông đã thành công dạy dỗ một đứa trẻ với những cách khác người – đa phần là thằng bé tự trưởng thành lên sau biến cố của mẹ nó. “Không biết thằng bé có nhớ ngày mai là ngày gì hay không?” Alex nghĩ đăm chiêu, nhìn những ánh đèn đường vụt qua mắt giống những bóng mờ, cứ như chiếc xe cảnh sát của ông đang ngồi bắt đầu chạy nhanh hơn. Mà cũng có lẽ là vậy, ông thấy rằng mình đang bước vào đường cao tốc và người cảnh sát phía bên cạnh ông, đang nắm vô lăng, đưa tay lên và móc lỗ mũi rồi đưa xuống cái cần số, Albert Johnson bắt đầu đạp chân ga mạnh hơn và trên màn hình điện tử, con số tốc độ đã lên tới năm mươi kí lô mét trên giờ.

Ông bắt đầu nghĩ ngợi tiếp, vẫn còn khá lâu để tới địa điểm tập hợp. Sẽ có một cuộc điều tra được huy động trên núi để tìm ra nguyên nhân thật sự dẫn đến những người bị cắn xé một cách dã man. Ban đầu được nhận định có lẽ là do chó dại, nhưng chưa điều tra ra được nguyên nhân thật sự thì chưa thể nói lên được điều gì chính xác.

Và ông là chỉ huy cho cuộc điều tra đó.

Nghĩ về việc con ông sẽ nhớ tới ngày mai, một ngày quan trọng, là ngày giỗ của mẹ Finn và là vợ của Alex. Thằng bé chắc chắn sẽ nhớ, ông tin là vậy, rồi cho mình nhiều lí do để điều ông nghĩ là chính xác như “Finn rất yêu mẹ của mình”, “Nó luôn là người tới sớm nhất để có thể thăm mẹ. Rồi lại rời đi mau chóng trước khi ông đến”, hoặc cũng có thể “Nó sẽ cố ý đến muộn để tránh việc nhìn mặt mình”. Ông buồn bã hẳn đi.

Albert đôi lúc liếc ngang qua thì nhận thấy sắc mặt của ngài thanh tra cao cấp xuống sắc liền nói với ông, “Chỉ huy có chuyện gì không vui à?”

Alex đáp lại, phẩy phẩy tay, “Không có gì. Chuyện gia đình thôi, cậu đừng bận tâm.”

Albert cười, nói một cách vui vẻ, chẳng buồn vừa bị đuổi. “Thì ra chỉ huy cũng đang vướng bận chuyện gia đình sao? Làm tôi ngạc nhiên đấy.”

Alex ngạc nhiên, trước giờ ông chưa hề nghe thấy Albert kể về gia đình của mình. Đôi lúc ông còn tưởng cậu ta độc thân, hoặc là một gay.

Ông quyết định mình cũng sẽ đáp lại sự nhiệt tình của Albert. “Bộ nhà cậu cũng đang cãi nhau ư?”

Bỗng Albert đượm buồn nói, “Thật ra tôi và bạn gái dự định sẽ cưới vào năm sau.”

“Thế tại sao cậu lại buồn, không lẽ…” Alex dần hiểu ra, một chuyện gì đó dẫn đến xích mích giữa cả hai.

Cậu ta nhăn mặt khó chịu, bĩu môi. “Cô ta bắt cá hai tay. Đã đi với tôi những lại còn đi với một thằng con trai khác, hắn là một nhà thiết kế thời trang. Trông cũng sành điệu lắm, tôi nghĩ mình không thắng nổi hắn.”

Alex cảm thấy mình nên chia buồn cùng cậu con trai này, nhưng trước đó ông lại hỏi, “Bạn gái đầu tiên của cậu ư?”

Albert với ánh mắt xa xăm, nhìn lên phía con đường dài thườn thượt rồi chậm rãi gật đầu.

Ngài thanh tra cao cấp nhận được câu trả lời câm lặng, liền quay ra phía cửa sổ và nhìn những ngọn cây trong đêm tối, phía bên dưới, ngoài mặt đường, chúng lướt qua và chỉ để lại một bóng mờ ảo. Sau đó ông lại quay trở lại cuộc trò chuyện đang dở.

Ông nói một tràng dài vẻ an ủi, “Thôi được rồi, chuyện gì cũng là cái duyên của nó. Hết duyên rồi thì mình và người đó cũng chẳng thể níu kéo được. Chỉ tổ làm đau lòng hơn mà thôi. Cậu là một người tốt, còn cô ta đã bỏ đi theo một gã đàn ông khác, sau này chắc chắn cô ta sẽ phải hối hận vì quyết định sai lầm của hôm nay. Còn cậu, vẫn còn bao nhiêu người mà cậu vẫn chưa lựa chọn mà anh bạn trẻ. Đâu như tôi, hiện tại tôi cũng chỉ còn một đứa con, vợ tôi đã mất từ lâu, mà tôi thì lại đã già cũng như vẫn còn tình cảm với người vợ quá cố nên đến giờ chẳng yêu một ai.”

Albert gật đầu, mắt vẫn đăm chiêu nhìn con đường phía xa cứ như đang lao vào vực thẳm tăm tối. “Tôi cũng nghĩ thế, chỉ huy nói đúng, chuyện đã qua thì cứ cho qua. Cảm ơn chỉ huy, nhờ những lời nói của chỉ huy mà tôi đã cảm thấy tốt hơn.”

“Không có gì. Rất vui vì đã giúp được cậu.” Alex cười.

Một lúc sau Albert xoay vô lăng, lại cất tiếng hỏi. “Lúc nãy ông có nói là ông có một đứa con ư?”

“Ừ, tên nó là Finn, chắc cũng gần bằng tuổi cậu.”

Albert ồ lên một tiếng, cậu lại hỏi, “Cậu ta là người như thế nào vậy?”

Alex suy ngẫm một lúc lâu, nhiêu đó cũng đủ khiến chàng trai trẻ sốt ruột:

“Thằng bé là một người luôn giỏi che giấu cảm xúc, tính tình điềm đạm, không thích gây rối với ai. Cứ mỗi lần sắp có một cuộc cãi nhau nào đó thì nó luôn là người bỏ đi trước để tránh vướng rắc rối. À, nó chưa có một đứa bạn gái nào cả. Đôi lúc tôi cũng hỏi về chuyện đó nhưng nó lại nói tránh nói né đi. Lâu rồi tôi cũng không còn hỏi nó về chuyện đó nữa.”

Albert thích thú nói, “Vậy cậu ta thực sự là một chàng trai tốt đấy, còn là một người trưởng thành nữa.”

“Cậu nghĩ thế à? Còn tôi thì nghĩ nó sẽ bị giết chết bởi chính thứ cảm xúc đó.”

Albert cảm thấy kỳ lạ, cậu hỏi, “Sao ông lại nghĩ vậy đội trưởng?”

Alex thở dài, khoanh hai tay lại và nhìn xuống dưới đôi giày màu đen của mình. Ông nói giọng buồn bã. “Bởi vì nó không bao giờ chia sẻ với ai hết, mọi chuyện buồn đều ôm hết một mình. Đôi lúc tôi còn sợ nó sẽ nghĩ quẩn.”

Albert lắc đầu. “Không đâu. Theo như những gì tôi nghe được thì những người như vậy thường phải đấu tranh tư tưởng rất là nhiều. Nói thẳng ra, họ luôn có một cuộc đối thoại nội tâm mỗi khi có chuyện buồn, và thường thì sẽ kéo dài khá lâu. Những người sống theo hướng nội tâm như thế tuy là vượt qua được khó khăn khá lâu, lâu hơn những người đi nói chuyện này với người khác và nhận lời khuyên, nhưng do vậy mà họ có một bức tường chắn vững chắc cho việc sẽ không buồn phiền hay cảm thấy tiêu cực khi gặp lại chuyện đó một lần nữa.”

Alex gật đầu. “Nếu như cậu nói đúng thì chắc hẳn con của tôi rất mạnh mẽ đúng chứ?”

Albert cười, nói phấn khởi, “Đúng là thế đấy chỉ huy.”

Ngài thanh tra cao cấp quay mặt lại, một nụ cười hiếm khi xuất hiện trên mặt ông.

Chiếc xe của Alex và Albert mất thêm năm phút sau để đến nơi. Mặc dù đang là buổi đêm và ở dưới một chân núi cũng không khiến nó trở nên bớt u ám, đáng sợ hơn khi có những cái đèn hai màu nhấp nháy lên tục trên đầu xe cảnh sát. Những người khác đều đã đến nơi. Đây là một cuộc điều tra trễ vì phải nhận được lệnh từ cấp trên để khám xét núi Artoon – giám đốc sở cảnh sát thành phố Deaver hôm nay bận việc gia đình, ông phải đến thăm vợ ở bệnh viện nên đến trễ cũng như phê duyệt hết đống hồ sơ mất từ năm đến sáu tiếng vì khá nhiều.

Những người cảnh sát, họ được điều động tới trước cả hai người và đứng đợi cũng được nửa tiếng. Dù vậy, họ vẫn không có một nét mặt gì là chán nản hay mệt mỏi cả. Cũng phải, Alex – cấp trên, chỉ huy của cuộc điều tra kỳ này để tìm kiếm hết tất cả xác chết vẫn còn ở trên núi.

Ngay khi Alex vừa mở cửa và chồm đầu ra ngoài thì một người che nửa gương mặt bên dưới bước đến và chào ông. “Chào ngài, đội trưởng. Hôm nay vẫn đến trễ như mọi khi dù kêu chúng tôi đến sớm nhỉ?”

Alex nghe xong cảm thấy hơi xấu hổ. “À ừ thì tôi xin lỗi, tôi và cậu Johnson đây bị tắt đường. Đúng không?” Ông quay mặt sang Albert.

Cậu ta nhất thời bỡ ngỡ, rồi nói, “À vâng, lúc nãy ở gần cao tốc bị tắt nghẽn đường đi.”

Cậu ta ngạc nhiên, “Hả? Buổi tối, hôm nay lại không phải lễ lộc, lại còn ở cao tốc nữa. Này đội trưởng, ông lựa chọn cấp dưới của mình tốt đấy.”

Bỗng nhiên mặt của Alex nghiêm nghị hẳn lên, ông nói với giọng nặng trịch, đầy vẻ uy nghiêm. “Đừng quên cậu cũng là cấp dưới của tôi, cậu Clark.”

Một nụ cười được thể hiện ở dưới mạng che mặt màu đen của Angel Clark. “À vâng, được rồi đội trưởng, tôi sẽ không làm gì ‘Albert’ của ngài nữa. Nhưng tôi cũng nhắc luôn, tôi không nằm trong phân khu tổ điều tra của ông.”

Alex nói như đã từng nói câu này nhiều lần rồi. “Cậu chỉ cần nói chuyện thiếu nghiêm túc một lần nữa thì tôi sẽ trừ năm mươi phần trăm lương tháng này của cậu.”

“À vâng, tôi xin lỗi. Người mới nên được ngài bảo vệ rất kỹ, tôi không dám động đến nữa.”

Đúng là thế, Albert Johnson chỉ mới gia nhập vào đội điều tra của Alex Smith mới vài tháng. Ông cảm thấy khó chịu, chân mày cau lại. “Cậu…”

“Ôi trời đất!” Albert nhạc nhiên, cậu chỉ vừa rời mắt khỏi chiếc xe, đến giờ mới chú ý thấy bộ quân phục mà Angel Clark mặc.

Đúng là khá ngầu đối với một người vừa nhìn thấy bộ phục trang của đội đặc nhiệm, Angel nhìn vào mắt của Albert đang nhìn vào bộ áo của mình. Đó là áo của lính đặc nhiệm với một áo giáp chống đạn bao bọc bên ngoài một cái áo tay dài đen bên trong, trên vai áo có may lô gô phù hiệu cảnh sát nhồi lên, mặt che mạng màu đen phủ lên mũi, đầu đội một cái mũ chống đạn, nhưng… thiếu mắt kính. Đôi mắt màu đen của bộ quân phục. “Đang là ban đêm.” Albert nghĩ “Đúng là không nên đeo mắt kính đen.” rồi cậu cười khi tưởng tượng người nào đó ngu ngốc đeo kính đen để rồi té dập mặt vì bị vấp phải cục đá nào đó ven đường. Bên dưới là một cái quần dài sọc, có phù hiệu cảnh sát ở đầu gối quần và mang một đôi bốt đen đế cứng lẫn dày.

Angel giương giương tự đắc với Albert. “Ngầu lắm đúng không?” Cậu ta cười nhếch môi dù chẳng ai thấy. “Nhưng cậu không có phần đâu.”

Albert tiếc nuối nhìn bộ đồ. Cậu đã từng nhìn thấy nó rất nhiều trên ti vi lúc nhỏ. Trong những bộ phim hay những tin tức khủng bố được phát trực tiếp từ phóng viên chiến trường.

Trong khi đó Alex lắc đầu chán nản, ông bắt đầu không hề thích thú với cái tật khoe mẽ ngu ngốc của Angel cũng như cái miệng của cậu ta nên ông tránh xa khỏi cả hai người. Và bắt đầu đi đến những người khác. Có vài người thì mặc quân phục y như Angel và vác một khẩu súng M4A1 to bự sau lưng, hùng dũng, thẳng lưng mà bước đi như một người trong quân đội đang viễn chinh. Có người lại ăn mặc đồ cùng loại với Alex; Quần tây, áo tay dài bọc ngoài áo sơ mi thắt cà vạc, bỏ áo sơ mi vào quần có thắt lưng bằng da.

Trong tổ điều tra này gồm có Alex Smith, Albert Johnson thì ngoài ra còn có thêm một người nữa đang bước đến với tác phong chững trạc hơn Albert nhiều vì có thâm niên nhiều năm trong nghề, nhưng dù sao cũng kém hơn Alex vào tuổi – Jim Kent.

“Chào ông, đội trưởng Smith.” Anh ta đưa tay ra chờ đợi.

Alex cũng đưa tay, lên và bắt tay với Jim. “Chào cậu. Thế nào rồi?”

Jim thẳng ngón tay cái ra và nắm hết bốn ngón còn lại, chỉ sau vai rồi nói, “Xong hết rồi, còn đợi ông thôi đấy đội trưởng.”

Alex thắc mắc từ nãy đến giờ. “Tôi cứ nghĩ là phải gọi chỉ huy chứ?”

Jin nghĩ một lúc, rồi nói. “Chắc vậy, nhưng nhiều người vẫn thích gọi là đội trưởng hơn. Chúng tôi đã quen gọi ông như vậy trước khi ông được chuyển sang tổ điểu tra.”

Đúng thế, trước đó Alex nằm trong tổ trinh sát, thuộc tổ bảo vệ thành phố lẫn những người thi hành công vụ. Nhưng sau đó, vì thiếu nhân lực bên tổ điều tra mà Alex phải chuyển đến tổ điều tra.

Jim nói khẽ vào tai của Alex, “Sau khi ông bị chuyển đi, tôi liền trở thành đội trưởng của tổ trinh sát.”

Alex nói, “Là vì cậu có năng lực nên mới được đề cử nhận chức.”

“Không phải là ông đề cử ư đội trưởng?” Jim cười.

Alex hỏi, “Sao cậu biết?”

“Cấp dưới nói cho tôi biết. Nhưng cuối cùng,” Anh khẽ cúi xuống, “Tôi lại quyết định chuyển sang tổ điều tra.”

Alex gật đầu. “Tôi tôn trọng quyết định đấy.”

**********

Mất đến một lúc lâu, Jim dẫn đội trưởng Alex đến chân núi và đưa ngón tay chỉ vào một con đường đi thẳng lên đó. Đó là một con đường không có cây chắn ngang nhưng có vẻ hơi khó đi vì tính gồ ghề cùng với việc đây khá giống một mặt thẳng đứng khi góc nghiêng của nó được đo khoảng sáu mươi độ. Do đó, Jim Kent đề nghị sẽ di chuyển bên rừng, nắm chắc những thân cây để leo lên cùng việc dùng những rễ cây lớn chắn góc chân. Ngoài ra, dường như chỉ có con đường không có cây san bằng là gần như thẳng đứng, mấy chỗ khác liền thấy nó bằng phẵng ngay.

Alex tự hỏi ai lại đi được con đường này. Và tại sao lại có tên quái đản nào lại làm nó (nếu có).

Jim sau đó cũng đưa một tờ giấy kẹp trong một tấm bìa cứng màu xanh có ghi tên những thành viên tham gia vào cuộc tìm kiếm xác chết này.

Jim nói, “Chúng ta sẽ đem tất cả những xác chết về và để cho tổ pháp y nghiên cứu, sau đó họ sẽ báo lại cho các ông nếu đã có thông tin kiểm tra. Nhưng tôi vẫn nghĩ giả thuyết ban đầu chính xác hơn, rất có thể là chó dại.” Anh khoanh tay mình lại, mắt nhìn Alex.

Ông ta vừa nhìn vào danh sách thành viên vừa nói, “Có lẽ thế. Vì vậy chúng ta mới phải nhờ đến tổ trinh sát bảo vệ, họ có thể bảo vệ ta nếu có gì bất trắc để chúng ta khoanh vùng các xác chết, rồi hôm sau sẽ dùng băng ca để chuyên chở tất cả về bệnh viện thành phố. Có lẽ khó mà làm xong trong đêm nay lắm đây. Phải như giám đốc sở đồng ý phê duyệt nhiều người đi hơn thì ổn rồi.”

Jim đắn đo. “Một công việc khó khăn đấy. Đội trưởng thừa biết chó dại rất nguy hiểm mà. Thật ra quyền quyết định không chỉ ở giám đốc mà còn của những nhân viên khác nữa. Họ không đi thì cũng đành chịu.”

Alex hiểu, dù thế ông vẫn phản đối cách làm việc vô trách nhiệm. “Đúng, nhưng chúng ta là cảnh sát, phải bảo vệ an toàn cho người dân và hiện tại trách nhiệm của chúng ta là đi thu nhặt lại những xác chết trên núi. Thế mà lại…” Ông thở dài, lắc đầu rồi ngưng hẳn câu nói của mình dù nó chưa hết.

Bỏ qua chuyện đó, Alex đảo mắt một lần nữa bảng giấy ghi những người trong công việc lần này.

Tổ điều tra:

Chỉ huy nhóm: Alex Smith.

Thành viên:

Tổ điều tra: Jim Kent (cũng là một người trong tổ trinh sát chuyển đến), Alex Smith (Kiêm đội trưởng), Albert Johnson.

Tổ trinh sát: Angel Clark, Jackson Harris, Lee Jodarnt.

Sau đó ông nhanh chóng quay trở lại chiếc xe của mình, nhờ Albert đưa cho chìa khoá cốp xe rồi ông mở nó, lấy ra hai cái va li nhỏ chứa đựng những vật dụng y tế thường được sử dụng để có thể thu nhặt những chứng cứ, ngoài ra còn có Luminol nhận biết máu dễ dẫn họ đến những xác chết hơn. Mỗi người trong đơn vị tổ trinh sát đều có một khẩu súng M4A1 và một khẩu Glock 19 – bên tổ điều tra cũng vậy, mỗi người họ sử dụng một khẩu Colt M1911 để phòng thân nếu xảy ra chuyện gì bất trắc.

Vì tính chất nguy hiểm của công việc nên dù có là tổ trinh sát thì phụ nữ cũng sẽ không được phân công trong nhiệm vụ này.

Họ tập hợp lại ở dưới chân núi thành một nhóm, bắt đầu leo lên, nắm lấy những thân cây to lớn làm điểm tựa, vượt qua hàng đống cỏ dại mọc tới bắp đùi và dẫm nát lên những bông hoa ven đường. Mùi của cỏ cây phảng phất vào mũi, và đâu đó là mùi hương của chết chóc đang lan toả. Những tán cây khô vì mùa nóng đang đung đưa bởi gió cùng tiếng xào xạc quen thuộc, tiếng côn trùng kêu vo ve trong không gian gần như tĩnh mịch, tối trời.

Những con người bắt đầu leo tới gần thân núi thì nhanh chóng Alex hô hào:

“Chúng ta sẽ chia ra và tìm kiếm ở những nơi đã được phân công. Tất cả đã rõ rồi chứ?”

Gần như đồng loạt hô lên:

“Rõ, thưa chỉ huy!”

Cuối cùng, sau tiếng lệnh chia ra tìm kiếm của Alex bắt đầu đi rải rác xung quanh lên trên giữa ngọn núi, họ tản ra để bắt đầu đi tìm kiếm, khoanh vùng xác chết, ngày hôm sau sẽ cử người tới để thu giữ và báo lại cho người thân của những nạn nhân bị chó cắn chết này. Cảnh tượng khóc thương đã quá quen thuộc với những con người dày dặn kinh nghiệm, dù thế họ vẫn sót cho gia đình đó đã mất đi thành viên.

Alex và Jackson đi với nhau, ông bước đi, dậm lên trên những ngọn cỏ và chậm rãi quan sát trong đêm. Bóng tối là một thứ gì đó có thể giết chết ta nếu như không cẩn thận. Cả hai đều phải thận trọng vì rất có thể chó dại sẽ nhảy bổ ra từ một hướng nào đó và tấn công họ như một con sói đói lả ruột, hay một con gấu bị cướp lấy hũ mật ong.

Jackson bước đi, tay chạm vào thân cây làm điểm tựa và đẩy thân mình lên. “Đội trưởng, lâu rồi không gặp, ông vẫn khoẻ chứ?” Cậu vui mừng nói như vừa gặp lại người thân lâu năm.

Alex vẫn đang nhìn phía trước, nói, “Có chuyện gì để sau nói đi cậu Harris. Chúng ta còn nhiều vấn đề cần giải quyết lắm. Có thể sẽ phải lùng sục hết ngọn núi này cả đêm mất.”

Jackson chỉ cười rồi tập trung lại cho công việc. “Ông vẫn giữ tác phong nghiêm túc của mình.” Cậu nhớ lại hồi trước khi Alex vẫn còn ở trong đội và làm một đội trưởng, người nằm giữ chức vụ cao nhất trong tổ trinh sát. Nhưng giờ ông ấy đã đổi sang một đơn vị khác rồi nhưng họ vẫn thường xuyên gặp nhau và hẹn đến các quán ăn hải sản và uống vài chai bia. Đôi lúc Alex hào phóng còn mời những chầu nhà hàng cho đồng đội.

Bọn họ đi xung quanh những điểm cần kiểm tra của bản thân. Hất những tán cây rậm rạp sang một bên, đi qua để rồi nó quật trở lại, tránh né những chỗ đất lún và né những thân cây to lớn. Họ đi tới một bờ hồ nhỏ, mặt hồ phẳng lặn đang làm một tấm gương soi ánh trăng trên đỉnh đầu cùng hàng đống những vì tinh tú đang lấp lánh ánh sáng lờ mờ.

Họ đi men theo bờ hồ một xíu thì sau đó Alex tìm thấy một xác chết nam nằm sấp, phía bên kia chỗ họ đứng cách không quá vài mét. Xác chết này ăn mặc y như một người chạy bộ gồm mũ lưỡi trai, áo phông trắng, quần óp sát vào mông và đùi, lẫn cơ quan sinh dục. Cơ thể đã cứng lại và bắt đầu có dấu hiệu phân huỷ bởi vì độ ẩm ven bờ hồ. Mùi hôi thối của xác chết bốc lên rõ mồng một, gần như xung quanh khoảng vài mét có thể nghe thấy.

Alex cúi người xuống, kiểm tra xác chết.

“Sao rồi đội trưởng?” Jackson hỏi, cậu vẫn tập trung quan sát xung quanh.

Alex nặng nề nói với giọng chẳng vui chút nào, “Tôi không ngờ lại bị cắn dã man đến thế. Cậu nhìn này.”

Jackson quay xuống và cũng phải kinh hãi khi nhìn thấy gương mặt của thi thể nằm sấp được Alex đưa lên. Mặt xác chết bị cắn xé và kéo gần hết da thịt ra ngoài, làn da đen sạm, và đó không phải người da đen – Jackson chắc chắn – xác chết bây giờ là một tập hợp của mùi đất, thịt thối rữa và xương mặt lòi một bên, não bị dập nát một nửa với cái lỗ đen hốc hoác đang có vài con giun đất ngọ ngậy. Ở những chỗ khác của cơ thể cũng có vết cắn, quần áo bị xé nát bươm, da thịt lòi ra cả máu với thịt thối rửa. Những con giòi ban đầu không được nhìn thấy nhưng cuối cùng Alex cũng để ý, chúng đầy trên cơ thể của cái xác, và có cả một lỗ rỗng bị ăn hết thịt thối ở phía bắp chân, bên trong toàn giòi là giòi trắng đục. Nhưng có vẻ chúng đã chết – thật kỳ lạ. Alex lật cơ thể trở lại, tay ông có đeo bao tay từ trước và nó dính đầy cát đất, ông mở con mắt cuối cùng của xác chết rồi dùng đèn soi vào. Đồng tử của xác đen đặc.

“Kinh khủng!” Jackson thốt lên, tặc lưỡi rồi trợn mắt nhìn cái xác nằm phơi thây trên nền đất lạnh lẽo. Bỗng thấy cổ họng nhờn nhợn chua chát nhưng đã nhịn được cơn buồn nôn.

Alex lấy điện thoại ra rồi khoanh vùng điểm gần hồ nước, nơi ông đang đứng. Sau đó liền đứng dậy, nói với Jackson, “Đi tiếp thôi.”

“Rõ, thưa chỉ huy!” Cậu nói cứng ngắc.

Bọn họ tiếp tục bước đi trong đêm tối, đi sâu vào trong khu rừng núi.

**********

Phía bên Angel Clark và Albert Johnson đang đi, hướng tới một khu đất trụi lủi, không cây cỏ, chỉ là một ô đất lớn có hình hơi tròn và khá rộng. Nhưng những gì họ nhìn thấy là một bãi tha ma những xác chết đang nằm rải rác xung quanh.

Gương mặt Albert xanh hẳn đi và cảm thấy rợn sóng lưng. Chưa bao giờ cậu lại cảm thấy sợ hãi như lúc này. Những lúc cậu còn nhỏ thì cũng chỉ sợ phải tắt đèn để đi ngủ, chẳng có một con quái vật nào có thể làm hại cậu được, nhưng giờ đây thứ quái vật hữu hình đang ở trước mắt cậu, nó trở thành một bức tranh tàn khốc như đang trêu ghẹo một cậu bé mít ướt, dễ xúc động.

Angel không thấy động tĩnh từ người đang đứng trước mình, cứ như bất động thành một tượng đá. Đúng thật, là Albert còn non tay nghề. Dù cho là Angel cũng đã từng gặp những chuyện như thế này và đã quen nó, nhưng đây là chuyện kinh khủng nhất mà anh gặp.

Xung quanh ụ đất trống có khoảng mười lăm cái xác bị cắn xé nằm sấp, nằm ngửa. Có già, có trẻ, ngay cả nữ và nam cũng đều có tất. Những con người tội nghiệp bị chó dại tấn công khi đang đi trên núi và bị tha đến đây. Trông họ thật khốn khổ. Cơ thể bị cắn xé dã man, một đống thịt nhão đang bám đầy bùn đất, đó là những gì có thể biết được.

Chân của Albert run rẩy đến không thể cử động, nhưng rồi một thứ gì đó gõ vào hông cậu – bán súng của Angel.

“Đi thôi nào.” Anh ta nói.

Albert cảm thấy mình như một tù nhân Do Thái đang bị áp giải đi bởi một gã Đức quốc xã hơn là một cảnh sát. Cậu cố cử động chân bắt đầu di chuyển tới cái xác gần nhất. Ngay khi đến nơi, Albert có cảm giác găng tay đang dính và tay cậu, nó ướt nhẹp bởi mồ hôi lạnh. Còn hơn thế nữa, nhịp tim của cậu đang đập nhanh và lớn tới nỗi Angel cũng có thể nghe thấy.

Nhưng khi nhìn vào xác người đàn ông, khá cao to và cơ bắp lực lưỡng, mặc một cái áo bằng vải mịn và quần thì màu xanh biển. Nhưng gương mặt đó khiến Albert nhớ ra một chuyện… rất quan trọng trong công việc điều tra lần này theo như cậu nghĩ sau khi nhớ ra.

Albert nói vẻ ngạc nhiên, “Đây là… David Lopez. Một trong những người được báo là mất tích trong đêm hôm trước.”

Angel quay lại, thốt lên đầy ngạc nhiên không kém gì Albert khi nghe cậu nói, “Cái gì?”

Albert nhớ lại thông tin rồi trình ra một mạch, “David Lopez, bốn mươi tuổi, được báo là mất tích bởi gia đình sáng nay. Đêm hôm trước, ông ta đi sinh nhật cùng vài người bạn. Sở cảnh sát tìm thấy một chiếc xe bị bể bánh ở đường cao tốc gần đây và gia đình cũng đã xác nhận đó là của ông. Nhưng tại sao xác ông ta lại nằm trên này? Và những cái xác này, không lẽ…”

Albert nhìn xung quanh, những cái xác quen thuộc. Hơn hàng chục người mất tích trong một đêm. Khủng khiếp, nỗi sợ hãi dâng trào tạo thành một cái nấc cục rõ lớn. “Vậy là…” Cậu nhìn Angel với vẻ mặt cắt không một hột máu, “Lũ chó đã tấn công những người đi đường và tha họ lên đây. Cũng như đã tấn công luôn những người đi lên núi chỉ để… Ăn!”

Người điều tra quỳ một chân xuống, đôi tay run rẩy bắt đầu đưa tới gần xác chết của David thì bỗng nhiên có một tiếng tru tréo như chó sói phát ra giữa màn đêm đen đặc.

Cả hai người đều giật mình vì tiếng tru đó, sau đó là một tràn những tiếng tru khác nữa bắt đầu cất lên và kéo dài suốt hơn một phút đồng hồ. Albert rên rỉ sợ hãi, té xuống đất, lùi lại với đôi bàn tay đeo găng dính đầy bùn đất, đôi mắt liên tục nhìn ra phía những thân cây cao to. Nhưng rồi sau đó một tiếng gầm gừ kỳ lạ phát ra đằng sau cậu.

Angel trong phút chốc xém làm rơi súng của bản thân, nhưng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và nắm chắc bán súng, quan sát xung quanh với đôi mắt đã thích nghi được trong đêm tối. Anh đảo mắt nhanh chóng, tìm kiếm xem có bất cứ một âm thanh xào xạc hay bất cứ một tiếng bước chân nào cất lên.

Nhưng thay vì là những thứ tiếng đó, một âm thanh la hét xé tan màn đêm một lần nữa từ phía sau Angel khiến anh xanh mặt. Ngay lập tức anh quay lại thì chứng kiến cảnh tượng hãi hùng: Albert nằm ngửa ra và bị David đè lên người một cách nặng nề, ông ta đang cắn vào cổ cậu, máu văng tung toé đến nỗi trúng vào gương mặt của Angel. Đôi tay run rẩy của Albert cố đẩy cằm của David ra khỏi nhưng cậu ngày càng la hét.

Angel sợ hãi nhưng, anh nhanh chân sút vào hông David vừa chửi tục, “Cút ra! Cút ra! Cái con mẹ gì vậy? Tôi cứ nghĩ ông ta đã chết rồi chứ? Sao vẫn còn có thể cử động được.”

Người đàn ông đó ngay lập tức văng ra xa, nhưng rồi nhanh chóng đứng dậy trong sự chứng kiến của Angel. Anh trợn mắt nhìn, không thể tin chuyện vừa xảy ra. Cái xác mới đây nằm bất động và có thể đã chết từ đêm hôm trước giờ đây bỗng nhiên đứng dậy và cắn người. Thịt của ông ta thối rửa, đôi mắt đen hốc hoác như lỗ sâu, miệng gầm gừ từng bước giảm khoảng cách giữa cả ba.

Angel chạy đến bên cạnh và choàng cánh tay của Albert qua vai mình.

Tiếng thở hồng hộc cùng tiếng rên ư ử cho thấy Albert đang rất đau đớn. May mắn khi David/cái thứ bị nguyền rủa đó không cắn vào động mạch ở cổ mà chỉ cắn phần bên hông.

Angel lo lắng nói, “Cậu đi được chứ, anh bạn?”

Albert gật đầu, cậu đau đến nỗi không thể cất lên tiếng nói. Một tay của cậu đang chặn dòng máu đỏ thẫm chảy xuống cái áo sơ mi màu lục và nhiễu từng giọt xuống đất.

Albert có thể chết vì mất máu.

Tình thế nguy cấp, Angel dìu Albert bằng sức của mình, hai người nhanh chóng di chuyển ra xa khỏi sự truy đuổi của cái thứ quái quỷ vừa sống lại như một thây ma. Nhưng rồi sau đó, những cái xác nằm ngổn ngang kia cũng bắt đầu cử động và đuổi theo họ.

**********

Phía bên của tổ trinh sát Lee Jodarnt và tổ điều tra Jim Kent đang lanh quanh trong rừng đầy rẫy những thân cây to lớn. Bỗng họ nghe thấy những tiếng tru tréo trong đêm đầy kinh hoàng. Nhưng có vẻ nó cách khá xa nơi này nên họ nghe không lớn lắm so với chó hú bình thường.

“Anh nghe thấy chứ?” Jim hỏi.

Lee nghĩ ngợi, đáp, “Vâng, nhưng có lẽ cách khá xa nơi này. Chúng ta vẫn được an toàn ở đây.”

Jim bỗng thấy gì đó phía bên kia những thân cây to lớn nên anh đi nhanh hơn bình thường, sau đó gọi Lee rồi cả hai cùng bước theo đuôi nhau. Họ nhanh chóng ra khỏi rừng cây và ánh mắt nhìn vào cánh cổng lớn phía trước đang bị rễ cây bám đầy trên tấm biển và cả những cây sắt trên cổng – một khu vui chơi.

“Đây là…” Lee ngạc nhiên nói. “Oliwoff.”

Jim quay sang hỏi, mắt mở to, “Anh biết chỗ này à?”

Lee cười, “Vâng, lúc nhỏ ba mẹ vẫn thường dẫn tôi đến đây để chơi vào lúc sáu bảy tuổi, hình như là năm 1982. Nhưng khi biết được khu vui chơi đóng cửa nên tôi cũng buồn lắm.” Anh nhún vai. “Cũng lâu lắm rồi. Tôi cứ nghĩ nó đã bị tháo dở sau dự án xây biệt thự trên núi của công ti Guillermo. Nhưng không, nó vẫn ở đây.” Trông anh phấn khích kể nó như một trong những kỷ niệm đầu đời.

“Chúng ta đang làm nhiệm vụ đấy anh bạn. Và cái dự án gì gì đó của công ti Guillermo cũng đã bị dừng lại rồi nên chỗ này mới còn đến ngày hôm nay.” Jim nhắc nhở.

Lee chợt thất vọng. “À vâng, tôi xin lỗi.”

Bọn họ dợm bước tiến đến cánh cổng khu vui chơi, nó làm bằng sắt thép nhưng đã bị rỉ sét sau hàng chục năm không được bão dưỡng, sơn lại. Ngay cả những hàng rào bao quanh lẫn những máy móc, trò chơi cũng thế, chúng là hiện thân cho sự tàn phá của thời gian còn hơn cả con người. Cánh cửa đã bị khoá bằng một ổ xích lớn với những lỗ của sợi dây xích dài, ngoài ra còn có thêm cả cái ống khoá rỉ sét đang nằm chổng chểnh, móc vào các lỗ xích nữa nên cơ bản là không thể phá được.

“Chúng ta cần phải vào trong,” Jim nói, ánh mắt nhìn vào bên trong những máy móc bị hoen rỉ đang nằm cô đơn trong nhiều năm. “Rất có thể cũng có những cái xác đang nằm ở trong này.”

Lee gật đầu, anh đảo mắt nhìn xung quanh. Dọc những hàng rào, ở dưới bờ tường được cắm bởi những cây sắt có một cái lỗ đi qua cho chó khá lớn. Ngay lập tức anh nói với Jim và hai người họ cùng chui qua đó.

Lee nói đùa, “Dường như lũ chó khá thích vào trong đây đúng chứ? Chúng đục một cái lỗ lớn đến thế mà.”

Jim quan ngại với những gì Lee nói, rõ ràng anh không thích câu đùa này. “Tôi thì lại thấy sợ nhiều hơn tò mò.”

Họ đi vào sâu khu vui chơi. Đây cũng chỉ là một khu vui chơi nhỏ được xây dựng vào năm 1968 theo những gì Lee đã nói, nhưng cũng thật bất ngờ vì sau năm 1987 thì nó đã bị đóng cửa vì quá ít người đến ủng hộ. Những lúc trước, cái thời mà sự thịnh vượng của những khu vui chơi vừa xây dựng và lên ngôi thì phải nói rằng người người đều đưa con mình đến đây. Mặc dù lúc đó trò chơi tàu lượn siêu tốc, bánh xoay kỳ diệu, nhà ma,… không tuyệt vời như bây giờ. Khu vui chơi Oliwoff, nằm trên gần đỉnh núi Argagoon (tên trước đó của Artoon – sau chiến tranh thế giới thứ hai thì nó đã bị đổi tên bởi một nhà quý tộc tới đây để xây dựng lại vào tạo nên một thành phố gần đó – Deaver – như bây giờ). Những chiếc tàu lượn cũ kỹ, bám đầy bụi và mạng nhện cũng như bên trong đã hỏng hóc và những quầy bắn súng giờ cũng chẳng còn một khẩu súng đồ chơi nào, hay là trò thảy banh thì những trái banh cũng đã mất hết, hoặc là trò ném miếng mút vào người chui đầu vào cái lỗ nhỏ một tấm biển lớn được sơn hình thầy giáo và có dòng chữ “TÔI LÀ GIÁO VIÊN” để cho lũ trẻ xả cơn giận thì chỗ đó giờ nhìn chẳng khác nào một bãi chiến trường phân chuột. Những bóng đèn của khu trò chơi tất cả đều không thể bật lên được nữa, có bóng đã bị bể và có những sợi dây đã bị đứt, rơi những bóng đèn xuống, lổm chổm những mảnh miểng kính xung quanh. Trong nhà ăn không còn một chiếc ghế nào nữa, cái tủ lạnh nhỏ gần đấy, bên trong cũng bốc một mùi hôi và là nơi sinh sống của lũ chuột lẫn gián.

Jim mở cửa tủ lạnh, những con chuột bên trong đó lập tức hoảng loạn, kêu lên rồi bỏ chạy như vừa bị khủng bố. Anh tặc lưỡi trong khi bên kia là Lee đang vật lộn với một cái lò quay vịt, quay heo đen như than khi anh cố đá nó xuống một cái rầm, làm bụi bay lên không trung khiến anh ho xù xụ. Họ mở những cái tủ bếp ra thì thấy sâu bên trong góc kẹt còn có một hộp thức ăn chưa cạy nắp hộp.

“Rất có thể nó cũng hư rồi.” Jim nói, cầm cái hộp thức ăn lên. Ngay cả hình quảng cáo bao ngoài hộp cũng đã sờn gần hết, không còn biết được sản xuất ở công ti nào vì chữ đã bay màu. “Rốt cuộc đã bao lâu rồi từ sau cuộc viếng thăm cuối cùng dành cho cái khu này đây?”

“Dường như tất cả mọi người đều quên nó rồi.” Lee nói, cười nhạt. “Ngay cả tôi cũng thế mà. Con người có mới nới cũ. Khi những khu vui chơi lớn hơn, nhiều trò chơi và đa dạng thể loại hơn để bắt kịp xu thế mong muốn của thanh thiếu niên hay trẻ em bây giờ, những khu vui chơi này liền bị bỏ xó. Dù sao nó cũng hoạt động được 19 năm chỉ với những loại trò chơi nhàm chán.” Anh nhún vai. “Mà tôi lại thích cái sự nhàm chán ấy… cho đến khi nhìn thấy mấy đường ray siêu tốc uốn lượn, lăn lộn và trông khá nguy hiểm hơn bây giờ. Kích thích.”

“Cũng là một khoảng thời gian dài so với đống hỗ lốn này.” Jim quăng lon thức ăn xuống và đá nó văng đi. Để rồi nó bay qua một cái lỗ bị bể ra trên tường đá. “Ê, Lee. Đường này!”

Jim gọi Lee đi theo mình vào chui qua cái lỗ bị bể ra đấy của nhà ăn. Họ ra phía sau một túp lều có chóp mũi nhọn rách nát. Cả hai liền đi quanh bờ liều và tìm thấy nơi đi vào trong của cái lều trông như một cái cửa nhưng nó rách lưa tưa đủ chỗ và còn hơn là bị chuột gặm.

Lee nhận ra nơi này, anh nói vẻ hoài niệm, “Đây là nơi từng dùng để diễn kịch.”

“Diễn kịch?” Jim cau mày nhìn Lee rồi quay trở lại nhìn xung quanh. Theo như Lee, những cái ghế được đặt trước một sân khấu giống như một nhà hát, nhà kịch, phòng trà thu nhỏ và những người mặc đồ thú hay mặc đồ chú hề sẽ lên trình diễn những tiết mục mua vui. “Chú hề à…” Jim cảm thấy khó chịu.

“Có chuyện gì ư?” Lee nói qua cái mạng che mặt màu đen của bộ đồ đặc nhiệm.

“Ừ thì…” Jim gãi đầu. “Nói ra hơi xấu hổ nhưng tôi sợ chú hề lắm.”

Lee cười thành tiếng, anh không thể nhịn được. “Vậy à? Thế mà tôi cứ tưởng anh là người không sợ trời sợ đất gì chứ? Nhìn xem, tới cả một cái công viên bỏ hoang này mà anh còn không sợ. Ban đầu tôi cứ nghĩ sẽ có con ma nào đó trú ngụ ở đây lao ra hù đấy.”

“Ừ thì ai mà chẳng có thứ mà mình sợ trong đời chứ.” Jim nói xong. Anh nhớ lại lúc nhỏ mình vừa lên tám tuổi, ba và mẹ anh đã thuê một chú hề tới để góp vui cho bữa tiệc sinh nhật của anh. Nhưng dù những người bạn của đứa nhóc chủ buổi tiệc cười phá lên thì nó lại nhìn chú hề với một ánh mắt sợ hãi. Và rồi khi chú hề mặc quần áo sặc sỡ bước tới bên cạnh nó, vừa định trao cho nó quả bóng bay thì đứa nhóc sợ hãi chạy tới núp sau lưng mẹ của mình. Nhớ lại ký ức đó làm Jim cảm thấy tức cười với bản thân. Thạt không hiểu vì sao lúc đó mình lại sợ một gã đàn ông nào đấy ăn mặc như một kẻ dở hơi và trang điểm với gương mặt trắng bốc, mắt tô viền xanh và gắn một cái mũi màu đỏ chót to bự.

Bên trong túp lều cũ nát chẳng còn gì nữa ngoài những sợi dây treo những tấm vải xanh và vàng đã bị đứt và chúng nằm khắp trên nền đất, gần như lún xuống sau khi cả hai đạp lên. Những cái ghế được cố định bằng nhiều thanh gỗ mục nát ở hai bên sân khấu đều cũ kỹ, ngay cả cái sân khấu giờ đây trông chẳng khác nào một nơi được dùng để diễn kịch gothic hay kịch ma hơn là dùng để mua vui cho lũ trẻ.

Jim ngồi xuống một trong những cái ghế, hi vọng rằng nó sẽ không gãy và anh lấy một bình nước ra từ bên trong va li của mình mang theo.

Lee hỏi, “Các anh đều có một bình nước như thế trong mỗi va li à?”

Jim đáp, “Ừ, có sao không?” Rồi anh thấy câu hỏi này thật ngớ ngẩn.

“À không có gì. Tôi chỉ thấy nó khá tiện lợi.”

“Cám ơn vì lời khen.” Jim cười, sau đó quay trở lại và uống cho đến còn nửa bình.

Bỗng nhiên có một tiếng gầm gừ đâu đó phát ra khiến cả hai giật mình, rồi sau đó trở nên cảnh giác hơn. Jim nhanh chóng cất chai nước của bản thân, lấy khẩu súng được trang bị – Colt M1911 – và nhanh chóng chạy đến bên cạnh Lee. Cả hai đều quan sát những góc chết mà người kia không thể đảm nhận. Rất có thể đó là một con chó dại, và nó sẽ tấn công rất nhanh vào góc chết nếu nó xuất hiện từ sau lưng.

Tiếng gầm gừ hoang dại lại cất lên một lần nữa, và lần này nó rõ hơn bao giờ hết. Lee cùng với Jim quay ra phía nơi mà họ đã bước vào túp lều. Âm thanh phát ra từ những bước chân dẫm lên cỏ, có thứ gì đó đang đi tới.

Tiếp sau đó, một cánh tay xuất hiện chỗ lối ra vào, rồi tới thân hình của một người phụ nữ, đôi chân trần đầy sình bùn. Một người phụ nữ mặc một cái đầm dây đỏ chấm bi tới đùi, một bên dây bị đứt và để lộ bộ ngực to của cô ta đang đỏng đảnh theo từng bước chân.

Lee cảm thấy nóng ran người, đỏ mặt, nhưng anh thực ra lại tức giận, nghiêm nghị nói, vừa dõi chân bước tới. “Này cô kia, phiền cô mặc quần áo đàng hoàng lại được chứ? Nhân tiện chúng tôi là…”

Nhưng rồi có một bàn tay nắm vai anh lại – Jim Kent. Đôi mắt anh ta quan sát người phụ nữ đang rút ngắn khoảng cách giữa họ.

“Khoan đã Jodarnt.” Jim nói, đôi mắt hình viên đạn nhìn người phụ nữ đang bước tới. “Có gì đó không ổn ở đây.”

“Ý anh là sao? Không lẽ định để cô ta phơi bộ ngực cho anh ngắm tới khi chảy máu mũi, còn cô ta thì lạnh tới chết thì anh mới chịu giúp à?”

Nếu bây giờ đang ở một quán bar hay ở đâu đó ngoài phố thì Jim sẽ cảm thấy cây đùa này thực sự mắc cười, nhưng bây giờ anh đang khó chịu với lời nói đùa cợt đó của Lee. Không biết đang đùa hay nói thật nhưng anh vẫn chậm rãi nói. “Nhìn cô ta đi rồi anh sẽ hiểu thôi.”

“Nhìn cái gì? Anh đang nói cái quái gì vậy Jim?”

Ngay sau đó Lee quay trở lại với người phụ nữ ăn mặc lả lơi kia, anh bỗng giật bắn người, trợn mắt nhìn như thể vừa thấy cảnh tượng giao phối giữa hai con chó cái mà anh vô tình thấy lúc nhỏ. Người phụ nữ đó không chỉ có một bên dây bị đứt mà quần áo còn rách rưới đủ chỗ. Những vết cắn xé – dường như là chó dại – đến đứt cả da thịt và chúng trông thật kinh tởm khi có những con ruồi đang bay bay xung quanh. Và gương mặt cô đầy những vết cắn thối rửa y như thân hình bên dưới, làn da đen sạm dễ nhận thấy khi Jim rọi ánh đèn về phía cô, và mái tóc cô ta rối nùi hơn cả chổi lau nhà. Nhưng một điều nữa, phía dưới cổ người phụ nữ có một vết cắn lớn ở động mạch và nếu là người thường thì đã chết lâu rồi.

“Anh nghĩ gì về chuyện này?” Lee chậm rãi lùi lại cùng Jim.

Jim đáp, không chắc chắn. “Tôi nghĩ chúng ta nên rời khỏi đây thì hơn.”

“Còn tôi thì lại nhớ tới mấy bộ phim thể loại thây ma kinh dị mà tôi hay xem trên ti vi. Chẳng hạn The Night Of The Living Dead. Đáng nhớ đấy chứ, nhưng chuyện này thì…” Gương mặt Lee thể hiện rõ vẻ bối rối dù đang đeo mạng che mặt, sợ hãi đến tím da. “Thật dị thường. Cô ta không thể sống với những vết thương ngu ngốc đó. Vậy là do xác chết sống lại ư? Không khoa học chút nào.”

“Nhưng giờ nó đang ở ngay trước mắt anh rồi đấy.” Jim thở mạnh, nhịp đập của tim tăng dần và lớn tới nỗi anh có thể nghe thấy. “Đi thôi! Có vẻ cái thứ quái quỷ này cũng chẳng đuổi theo ta dược đâu.”

Lee hỏi, “Anh không định bắt nó à?”

Jim buồn nôn với ý định đó, cảm thấy như mình đang xông vào miệng cọp và anh chưa từng thấy anh mà anh muốn đấm mạnh vào mặt như Lee lúc này. Anh bình tĩnh nói cho Lee nhớ ra, “Nếu đúng như trong phim thì khi bị cắn, chúng ta cũng sẽ nhiễm bệnh. Dù tôi không hay xem phim về đề tài thây ma lắm, và tôi cũng chẳng phải một tên tin vào chuyện này. Nhưng một lần nữa tôi phải nói rằng, nó đang ở ngay trước mắt, ngoài đời, bằng xương bằng thịt và gớm ghiếc, tởm lợm. Trông cái thứ đó như vừa xuất hiện từ đâu đó dưới lỗ cống đầy rác và phân người.”

Cả hai tránh né người phụ nữ đã chết bằng cách đi vòng quanh, sau đó lùi lại và tiếp tục là một vòng tuần hoàn. Cái thứ quái dị đội lốt người phụ nữ đấy cũng chẳng nhanh nhạy gì nên họ yên tâm nó sẽ không bắt được họ.

Lee cũng hiểu, anh liền nói, “Vậy nếu đây là một đại dịch thì sao? Tôi tự hỏi nếu nó lan tràn như trong phim thì… thật khủng khiếp!”

“Lo xa quá rồi đấy. Trong phim là trong phim. Chúng ta có súng, có thể chống lại chứ chẳng phải lũ đần thối. Nói thật là khi xem phim, tôi tự hỏi lực lượng quân đội mắc dịch làm cái đách đéo gì không thể chặn được dịch bệnh bùng phát.”

Lee gật đầu. “Cũng có lí. Nhưng dù sao thì đây là một phát hiện lớn.”

“Lớn thì lớn, nhưng chúng ta cũng phải rời khỏi đây trước đã. Rất có thể…” Jim nghĩ tới một giả thuyết rợn người.

“Có thể chuyện gì?” Nhìn vào gương mặt của Jim làm Lee cảm thấy khó chịu, nhăn mặt lại.

Jim rùng mình, anh cầu mong những gì anh nghĩ sẽ không trở thành sự thật. “Tất cả những xác chết ở trên núi này liệu… chúng cũng sẽ sống lại đúng chứ?”

Lee chợt nhận ra, anh cảm giác có một tia điện vừa xẹt ngang mình, báo hiệu một điềm chẳng lành. Rõ ràng đúng là thế, như Jim đã nói lúc nãy.

“Vậy thì ta phải nhanh chóng rời khỏi đây. Nếu giả thuyết cũng anh đúng thì… Ôi trời đất!” Lee hốt hoảng. Ngay lập tức con thây ma lao tới anh nhưng anh đã tránh được, anh dùng súng lục – Glock 19 – nả hai phát vào đầu nó làm lõm một lỗ sâu hoác.

“Nếu đúng thì chắc nó sẽ chết sau khi bị tổn thương não.” Lee thở hỗn hễnh.

Nhưng không, thây ma nữ đó đang chậm rãi chống tay và đứng dậy, Lee lùi lại trong sự ngạc nhiên một lần nữa hiện rõ trên gương mặt của anh.

“Khốn kiếp! Cái quái gì nữa đây?” Anh gần như thét lên.

“Vậy có đủ lí do để chúng ta…” Jim nói, mắt nhìn Lee.

“Đi thôi!” Lee ngắt tiếp lời của Jim.

Cả hai chạy nhanh ra phía lối ra mà mình đã vào trong túp liều này. Họ chứng kiến cảnh tượng gồm năm đến sáu xác chết, có nam có nữ đang chậm rãi bước ra từ nhiều phía. Bọn chúng ngay lập tức tìm thấy mục tiêu của bản thân và đuổi theo. Lee và Jim bị lũ quái vật hình người này doạ chết khiếp. Họ không biết sẽ còn bao nhiêu con xuất hiện nữa nên họ nhanh chóng chạy dọc theo con đường, đấm văng lũ quái vật ngay khi chúng lao đến, dùng những khẩu súng lục nã đạn vào đầu lũ quái vật đi ra từ phía tàu lượn siêu tốc rởm. May mắn thay là lũ quái vật này chẳng mạnh mẽ hay thông minh – đúng dạng thây ma trong phim –  gì khi chỉ biết có đòn vồ vập – trừ việc chúng quá đông. Cả hai nhanh chóng chạy đến lỗ chó nhưng một con thây ma cao lớn chặn trước mặt và lao tới như một chiếc xe lửa đồ đầy than vào lò năng lượng. Họ không còn thời gian, lũ phía sau đang đuổi tới nên Lee dùng khẩu M4A1 của mình dắt sau vai, xả đạn vào đầu của gã đàn ông. Thứ quỷ dị đó ngã xuống và cả hai tiếp tục chạy. Họ nhanh chóng chui qua lần lượt rồi chạy xa khỏi khu vui chơi Oliwoff như Hansel và Gretel đang chạy trốn khỏi nhà phù thuỷ.

Họ không muốn chậm trễ, liền gọi qua bộ đàm đến hai đơn vị còn lại nhưng phía bên Angel và Albert không có động tĩnh gì. Jim sợ hãi và chuyển qua gọi cho Alex, có tiếng bắt sóng rè rè như một đàn ong bắp cày to bự đang bu quanh.

Jim nói, “Đơn vị số hai gọi cho đơn vị số ba, nghe rõ trả lời!”

Bên kia là một giọng nói cực kỳ gấp gáp cùng tiếng thở dốc, “Đơn vị số ba, Alex Smith. Bên chúng tôi đang gặp phiền phức, cần chi viện.”

“Có chuyện gì vậy chỉ huy? Ông đang ở đâu?”

Lee ngóng tai tới gần bộ đàm, dường như cũng đang tò mò muốn biết hai bên đơn vị còn lại như thế nào rồi. Nhưng với bộ dạng của Jim nhìn xuống đất với đôi mắt mở to sợ hãi thì xem ra có chuyện chẳng lành.

“Chúng tôi đang bị một bầy chó dại đuổi theo, nhưng chúng có vẻ như… A!”

Tiếng rơi mạnh của một thứ gì đó, sau đó là những tiếng tít dài hơi làm cho Jim cảm thấy như mình vừa rơi vào một lỗ đen tối mịt. Anh ngay lập tức quay sang Lee đứng bên cạnh. “Chúng ta cần phải nhanh chóng hỗ trợ bọn họ. Đơn vị số một của Albert và Angel dường như đang gặp sự cố, tôi không thể gọi cho họ. Còn bên đội trưởng thì họ lại bị một bầy chó đuổi theo. Đúng thật, ngay từ đầu tôi thấy quyết định chia nhau ra là một sai lầm. Chỉ tại tôi quá chủ quan.” Jim gần như hét lên. “Khốn kiếp!”

“Bình tĩnh anh bạn,” Lee vỗ vai trấn an. “Bây giờ chúng ta phải nhanh chóng đi hỗ trợ đội trưởng tiêu diệt lũ chó đã rồi tìm đơn vị một sau. Cậu cũng không cần tự trách mình. Tất cả chúng ta đều có lỗi vì chẳng ai thèm nghĩ việc chia đội lần này lại dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đến vậy.”

“Vậy chúng ta nhanh…”

Gâu!

Một tiếng sủa vang lên ở phía sau lùm cây gần đó khiến cả hai giật bắn người. Họ thận trọng cầm chặt súng của bản thân và quan sát lùm cây, chậm rãi lùi lại – lùi xuống dưới con dốc núi.

Tiếng xào xạc phát ra, rồi sau đó là thân hình của một con chó bước ra khỏi đấy – một con chó dại. Nhưng nó không giống chó dại bình thường, một con chó dại với những tấm thịt như bị bung tróc khỏi cơ thể và để lộ cả xương bên trong của nó. Bộ xương ngực nhỏ, trắng nõn đang phô bày trước mắt. Đôi mắt của con chó màu đỏ hung tợn, khát máu như một kẻ đi săn thật sự trong đêm tối. Nó nhe răng sủa liên hồi, những giọt nước dãi văng tung toé ra và phía bộ hàm của nó nhiễu xuống bãi cỏ dưới chân. Một con chó, và nó cũng bị nhiễm bệnh.

“Nếu đúng theo tôi đoán… có lẽ những con chó này chính là nguyên nhân khiến những cái xác đó sống lại.” Jim nói, thận trọng nhìn con chó như là một con rắn hổ mang chúa có thể lao đến và nọc độc sẽ giết chết anh nếu anh bị cắn, vô phương cứu chữa.

“Điều gì khiến anh nghĩ như thế?” Lee nói, vẫn nắm chặt khẩu súng, chờ đợi con chó lao đến thì anh sẽ khoét một lỗ đạn vào đầu nó.

“Tôi không chắc nhưng… A!” Jim thét lên, chân anh bị vấp phải một lỗ đất bị lõm và ngã xuống.

Trong lúc đó, con chó gầm gừ, sủa liên hồi rồi lao tới, miệng của nó nhỏ dãi, đôi mắt đỏ rực đầy man dại. Lee dùng khẩu súng M4A1 mà anh cầm bắn nó. Con chó dại dường như cũng chẳng thông minh lắm khi nó chỉ lao một mạch tới và nhảy bổ lên, nhưng rồi lại bị những phát đạn ghim vào người làm nó ngã nằm sóng soái ra đất, vẫn còn thấp thỏm. Ngay lập tức, con chó chậm rãi đứng dậy, nó bắt đầu điên tiết lên nhìn hai thân hình trước mặt nó, chỉ cách có vài bước chân. Nó nhìn vào khẩu súng, họng súng mà gã đàn ông ăn mặc đồ kín mít đang cầm như nam châm chỉa thẳng vào nó. Sau đó nó gầm gừ rồi lùi lại.

Lee và Jim nhìn con vật nguy hiểm, đáng sợ lùi bước, tránh xa khỏi cả hai cho đến khi nhảy vào một bụi rậm và bỏ chạy xa khỏi họ.

Đôi tay của Lee run rẩy, anh cố nắm chặt khẩu súng của mình để tránh nó sẽ rơi ra một lần nữa. Đôi mắt anh nhìn xuống Jim thì thấy mặt của người đồng đội còn lại trắng toát, chẳng còn một giọt máu nào. Cả hai người để thở dốc, tim đập mạnh và nhanh tới nỗi tưởng như đều bị bệnh tim.

Lee nuốt nước bọt, đưa tay về phía Jim, người đang ngồi trên đất và dường như không thể di chuyển. “Anh còn đi được chứ?”

Jim vẫn nhìn về phía bụi rậm, nơi mà con chó vừa bỏ chạy, mường tượng nó có thể quay lại bất ngờ và cắn vào cổ anh một phát. Anh nhìn về phía cánh tay đưa đến của người đồng đội thì thoáng bất ngờ. “Ồ xin lỗi!” Anh nắm cánh tay đó và được kéo lên nhanh chóng. Tự kiểm tra chân mình, may mắn khi nó không bị bong gân hay gì khác.

Ngay sau đó, họ nghe thấy những tiếng gầm rừ mà chắc chắn cả hai đều biết tiếng đó phát ra từ cái gì. Lũ thây ma đã xoay sở chui ra được cái công viên cũ nát đó. Hoặc cũng có thể là lũ khác đã sống lại sau một ngày phơi thây trên ngọn núi này đang dần xuất hiện. Và đúng thế, những âm thanh đó cứ như đang bao quanh lấy nơi mà hai con người còn sống đang đứng.

Một con xuất hiện chắn ngang đường dự định di chuyển của hai người để xuống chân núi. Rồi hai con. Rồi ba con. Rồi bốn con. Sau đó là xung quanh của bọn họ.

Lee tặc lưỡi, “Không có kẽ hở để thoát.” Anh nói.

Jim bình tĩnh nói, trái ngược với vẻ sợ hãi lúc nãy của mình, “Lũ này dễ xử hơn chó nhiều. Chúng di chuyển rất chậm nên chúng ta sẽ…” Anh nhanh chóng giơ khẩu súng ngang vai, nhắm chuẩn và bắn vào đầu những con thây ma khiến chúng ngã nhào ra sau lưng.

“Bắn tốt đấy!” Lee khen ngợi.

“Anh còn thời gian để làm chuyện đó à? Chạy nhanh thôi?” Nói xong, Jim chạy theo hướng những con thây ma đang ngã xuống, Lee đuổi theo sau lưng.

Khi họ đã chạy ngang qua lũ bọn chúng thì chúng có dấu hiệu động đậy và chậm rãi đứng dậy. Xác định những mục tiêu đang chạy rồi đuổi theo một cách rề rà, chậm chạp.

**********

Tiếng súng lạch tạch liên hồi, ghim thẳng những viên đạn bắn ra từ khẩu M4A1 vào mấy con chó đang xông đến và chúng có con nằm bất động vì bị trúng quá nhiều, có con vẫn còn ngồi dậy và tiếp tục lao lên trong khi Jackson đợi Alex đứng dậy một cách hậu đậu vì sau cú ngã trời giáng của mình.

Những tiếng lạch tạch hết đạn, ngay lập tức với kinh nghiệm tập thay đạn của mình ở khu tập bắn của sở cảnh sát nên Jackon lập tức tháo băng đạn ra và lấy một băng khác thay vào. Tiếp tục công việc tàn sát lũ chó dại lẫn lũ thây ma gớm ghiếc đang lảo đảo đi đến.

Jackson chửi rủa, “Khốn kiếp! Sau bọn chúng có thể sống lại sau khi ăn hàng đống đạn thế chứ?” Rồi cậu nhìn những cái xác bất động, tự an ủi rằng cậu không lãng phí công sức của mình và những viên đạn thực sự có tác dụng với chúng. Cậu cũng không hối hận với những bộ phim kinh dị về thây ma mà cậu hay xem với gia đình hồi lúc nhỏ và những lúc ám ảnh trong giấc mơ đến mất ngủ vài ngày, như: White Zombie, Revenge of the Zombies,… Chúng đã chỉ cho cậu biết điểm yếu mặc dù không thực sự hữu dụng cho lắm. Nhưng dù sau nhờ vậy mà đã giảm thiểu những con chó lao tới. Mặc dù thế, gương mặt tái mét của Jackson vẫn sợ hãi, dán vào vết cắn từ một con chó đang nằm trên đùi trái của Alex. Nó làm rách cả chiếc quần dài và sâu vào trong da thịt.

Nếu đúng như những gì trong các bộ phim đã mô tả về chất độc thây ma, cậu không nghĩ Alex có thể sống được. Nhưng dù sau đó cũng chỉ là phim, cậu vẫn sợ, nhưng nỗi sợ đó chẳng có căn cứ. Rất có thể những thây ma mà cậu thấy, trước đó thì những người còn sống phải bị chó dại cắn cho đến chết thì họ mới trở thành thây ma – theo như những gì Jackson phỏng đoán và níu kéo một cách khó khăn.

“Ông vẫn đi được chứ đội trưởng?” Jackson nói, ánh mắt anh vẫn lăm lăm trợn trắng hung ác với lũ chó dại lao đến, khẩu súng xả đạn ì đùng lên chúng cùng ánh lửa xanh và làn khói nóng từ nòng súng đang bốc lên.

“Tôi nghĩ là…” Alex gồng sức đứng dậy, không thể đứng thẳng nhưng có lẽ vẫn đi được. “Anh nên bỏ tôi lại.”

“Ông đang nói cái quái gì vậy đội trưởng Smith? Bỏ ông lại à? Tôi không thể làm thế.” Jackson lùi lại, anh chỉ còn lấy hai băng đạn mà với tốc độ xả đạn như nước để tiêu diệt lũ quái vật đang lao đến thì chỉ còn cầm cự khoảng một phút là nhiều.

“Nhưng hiện tại cậu cũng đâu còn nhiều đạn nữa. Với cái chân này tôi cũng không thể chạy được. Nếu cậu nhất quyết muốn kéo tôi đi thì chúng ta chỉ có thể có con đường chết.” Alex nói, ông nhìn về phía lũ chó dại. Có khoảng hai hay ba con đã gục xuống, không còn cử động nữa, nhưng năm đến sáu con khác tuy đang bị thương mà chúng vẫn còn rất hung hăng, lao đến một cách ngu ngốc mà có hiệu quả để chờ Jackson không còn gì chống lại ngoài khẩu súng lục dắt ngang lưng cùng con dao bén ngọt nằm trong bao.

Cậu ta đã tới băng đạn cuối cùng của mình.

“Cậu không thể Jackson. Tôi là chỉ huy, tôi kêu cậu chạy là cậu phải chạy. Cậu hiểu chứ? Đừng để hi sinh vô ích.” Alex nói lớn.

Jackson trong một giây nhìn liếc qua ánh mắt của vị đội trưởng – chỉ huy – của mình. Cậu cắn môi rồi quyết tâm dừng việc bắn lại, quay đầu mà chạy nhanh hết sức của bản thân. Ngay lập tức sau đó, tiếng la hét chói tai từ bên trong bộc phát bởi Alex. Những con chó đã lao đến và cắn xé ông như một món thịt được chờ đợi rất lâu, nhưng Jackson không quay đầu lại mà vẫn bỏ chạy. Tiếp sau đó là tiếng những con chó dại quay sang đuổi theo cậu. Chúng bám sát sau lưng và kèm theo những âm thanh sủa, hú lên trong màn đêm tăm tối, tĩnh mịch cùng tiếng xào xạc của những bụi cây mà chúng lao qua. Một con chạy song song với Jackson và đang giảm khoảng cách theo chiều ngang đường chạy, cho đến khi gần tới thì nó nhảy bổ ra để rồi nhận những phát đạn ghim vào người từ Jackson. Nó kêu lên oẳng oẳng rồi văng ra xa một khoảng cách gần.

Jackson men theo con đường để chạy, phía trước là một ánh sáng cho cậu, nó cho cậu biết là cậu có thể sẽ ra khỏi khu rừng này được rồi. Hai hàng cây cuối cùng để có thể tiến vào con đường dốc chạy xuống núi mà trước khi leo lên đây để cậu có thể cùng với Alex đi tìm kiếm những xác chết. Nhưng… đó là một mỏm đá rất cao…

Cậu tím tái mặt và nhìn xuống bên dưới, nếu té xuống thì chắc chắn là cậu sẽ chết. Nhưng ở phía sau, lũ chó đang lao đến và chúng sẽ giết cậu bằng những chiếc răng nhọn hoắc. Cậu đã chạy sai đường, đây không phải là một lối thoát mà đây là một ngõ cụt. Cậu nghe thấy sau lưng mình là lũ chó đang sủa rất lớn – ngày càng lớn, chứng tỏ chúng ngày càng gần cậu hơn.

Quay đầu lại cái rập cùng cả cơ thể, cậu thấy lũ chó chỉ còn cách vài bước chân. Jackson lùi lại, những viên đá rơi lạo xạo xuống phía dưới.

Cậu đã làm cho đội trưởng Alex thất vọng, hi sinh tính mạng của đội trưởng một cách uổng phí mà cậu vẫn không thể chạy thoát được. Và giờ chúng đã ập đến trước mắt. Cậu chỉ còn có thể… Jackson nhắm mắt, không dám nhìn và lùi lại một lần nữa để tiến đến một cửa chết khác.

Cậu té xuống vách đá cùng âm thanh vù vù bên tai mình. Và những con chó dại đứng nhìn trên mỏm đá cho đến khi con mồi của chúng biến mất.

Chúng quay đầu bỏ đi tìm kiếm một thức ăn mới.

Deaver, Pennsylvania, ngày 30, tháng 08, năm 2001.

Bài cùng chuyên mục

Dạ Yết

Dạ Yết (4 tuần trước.)

Level: 6

95% (19/20)

Bài viết: 7

Chương: 15

Bình luận: 54

Lượt thích: 44

Lượt theo dõi: 4

Tham gia: 21/05/2019

Số Xu: 1097

William Meyer

Trí tưởng tượng bay cao bay xa nhỉ? Mà không ngờ nàng lại rãnh tới nỗi đi đọc hết truyện của ta luôn đấy. Nhớ nghĩ khoảng mười lăm phút,...

hì hì!

 


William Meyer

William Meyer (4 tuần trước.)

Level: 6

80% (16/20)

Bài viết: 8

Chương: 9

Bình luận: 37

Lượt thích: 44

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 05/02/2019

Số Xu: 824

Dạ Yết

nhìn lúc đọc còn liên tưởng đến khung cảnh của sherlock home  

Trí tưởng tượng bay cao bay xa nhỉ?

Mà không ngờ nàng lại rãnh tới nỗi đi đọc hết truyện của ta luôn đấy. Nhớ nghĩ khoảng mười lăm phút, không là bị cận chết


Dạ Yết

Dạ Yết (4 tuần trước.)

Level: 6

95% (19/20)

Bài viết: 7

Chương: 15

Bình luận: 54

Lượt thích: 44

Lượt theo dõi: 4

Tham gia: 21/05/2019

Số Xu: 1097

nhìn lúc đọc còn liên tưởng đến khung cảnh của sherlock home

 


Thiên Yết

Thiên Yết (2 tháng trước.)

Level: 6

60% (12/20)

Bài viết: 4

Chương: 20

Bình luận: 46

Lượt thích: 12

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 04/07/2019

Số Xu: 287

William Meyer

À mà không biết kết có hụt hãng quá không há :))

trong 1 truyện ngắn của mình, mình cũng cố ý viết 1 cái kết giống như bạn
Có 1 tiểu thiên sứ có nhắn lại với mình rằng cái kết khiến bạn ấy cảm thấy hụt hẫng, cho nên mình đã viết thêm phiên ngoại cho truyện ngắn đó.
Mình ít khi bình luận nội dung của người khác vì đó là ý tưởng các bạn nghĩ ra và muốn truyền tải lại cho người đọc. Nếu bạn đọc lại bài của mình mà cảm thấy nó hụt hẫng thật thì hãy thử viết thêm phiên ngoại cho truyện xem sao.
Cố lên thân ái~

 


William Meyer

William Meyer (2 tháng trước.)

Level: 6

80% (16/20)

Bài viết: 8

Chương: 9

Bình luận: 37

Lượt thích: 44

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 05/02/2019

Số Xu: 824

Thiên Yết

ân~ bạn vẫn còn lỗi diễn đạt như ở đoạn: '' Fin cố nốc hết chỗ nước cuối cùng trong lon nhưng chưa được mà đã ợ một hơi lớn,...

À mà không biết kết có hụt hãng quá không há :))


William Meyer

William Meyer (2 tháng trước.)

Level: 6

80% (16/20)

Bài viết: 8

Chương: 9

Bình luận: 37

Lượt thích: 44

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 05/02/2019

Số Xu: 824

Thiên Yết

ân~ bạn vẫn còn lỗi diễn đạt như ở đoạn: '' Fin cố nốc hết chỗ nước cuối cùng trong lon nhưng chưa được mà đã ợ một hơi lớn,...

Thanks bạn góp ý nha


Thiên Yết

Thiên Yết (2 tháng trước.)

Level: 6

60% (12/20)

Bài viết: 4

Chương: 20

Bình luận: 46

Lượt thích: 12

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 04/07/2019

Số Xu: 287

William Meyer

Vẫn còn lỗi nhiều chỗ. thanks bạn

ân~
bạn vẫn còn lỗi diễn đạt như ở đoạn: '' Fin cố nốc hết chỗ nước cuối cùng trong lon nhưng chưa được mà đã ợ một hơi lớn, bắt đầu di chuyển trên con đường vắng vẻ. Chỉ có một mình finn cô đơn đi trong buổi ban đêm này nên... hơn một chút. Hoặc cũng có thể một vài cướp của nào...''
Dấu gạch chân đầu tiên: câu này bạn chọn từ không được uyển chuyển cho lắm. Nên thay
Gạch chân 2: Nên bổ sung chủ ngữ.
Gạch chân 3: Phía trước bạn chưa không có ý gì để đối lập với câu sau nên có thể bỏ luôn 2 chữ này.
Gạch chân 4: Bạn cảm thấy thế nào nếu thay ''một vài lũ cướp của'' thành một vài tên cướp của'' ?
Cố lên thân ái~
Mình rất thích ý tưởng so sánh trong câu: ''Albert cảm thấy mình như một tù nhân Do Thái đang bị áp giải đi bởi một gã Đức quốc xã hơn là một cảnh sát.''
Rất thú vị.

 

 


William Meyer

William Meyer (2 tháng trước.)

Level: 6

80% (16/20)

Bài viết: 8

Chương: 9

Bình luận: 37

Lượt thích: 44

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 05/02/2019

Số Xu: 824

Thiên Yết

Viết hoa ''beethoven'' bn nhé~ Cố lên nha thân~~  

Vẫn còn lỗi nhiều chỗ.

thanks bạn


Thiên Yết

Thiên Yết (2 tháng trước.)

Level: 6

60% (12/20)

Bài viết: 4

Chương: 20

Bình luận: 46

Lượt thích: 12

Lượt theo dõi: 3

Tham gia: 04/07/2019

Số Xu: 287

Viết hoa ''beethoven'' bn nhé~
Cố lên nha thân~~

 


Vnkings.com

Thành Viên

Thành viên online: Trường Lộ Cô Hành Đào Diễm Vô Hình Nguyễn Dương Zuka Hara Hải Yến mộc khinh ưu Nhiên Hoàng Hồng Nhien H Hoang và 132 Khách

Thành Viên: 27105
|
Số Chủ Đề: 4641
|
Số Chương: 15699
|
Số Bình Luận: 32073
|
Thành Viên Mới: Nhien H Hoang