Về Đi Anh, Ở Nhà Có Mẹ Mong!

Về Đi Anh, Ở Nhà Có Mẹ Mong!
Thích

Truyện: Về Đi Anh, Ở Nhà Có Mẹ Mong

Tác giả: Bodhi

“Truyện dựa trên câu chuyện có thật về hành trình đi tìm hài cốt người con trai là liệt sĩ của bà Phạm Thị Miện. Năm người ta đến nhà báo tin về tung tích hài cốt của bác tôi, liệt sĩ Lương Văn Yến khi ấy bà đã ngoài chín mươi. Do còn nhỏ nên tôi không thể nhớ hết được từng chi tiết về hành trình đi tìm hài cốt của bác. Vì vậy trong câu chuyện dưới đấy sẽ có một vài chi tiết là hư cấu.

Câu chuyện này tôi muốn dành tặng cho các bà mẹ liệt sĩ nói chung và các mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng, cùng toàn thể các ông, các chú, các bác thương binh liệt sĩ. Cảm ơn sự mất mát và những hi sinh thầm lặng của các “Mẹ”. Cảm ơn những người đã hi sinh hay mất đi một phần thân thể, sức khỏe vì hậu quả của chiến tranh để lại. Để chúng con, có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc như ngày hôm nay!”

—–

“Gió đưa cành trúc la đà

Con trẻ ngã xuống, mẹ già còn đây

Mẹ thương áo lính thân gầy

Một đời mẹ đợi xuôi tay vẫn chờ.”

                                (Linh Ann)

Chuyện xảy ra cách đây nhiều năm, hồi ấy bà tôi vẫn còn sống.

 “Chúng mày không tìm được em về, tao chết không nhắm được mắt. Nhà cửa ruộng vườn cũng đừng có hòng đứa nào đòi chia…”

Chỉ cần nghe loáng thoáng tiếng kêu khóc, tiếng đập bàn, phá ghế là mấy đứa chúng tôi liền chạy ra cổng ngó sang, nhà bà ở ngay sát kế bên nhà tôi. Bà là chị gái của ông nội tôi. Năm đó bà đã ngoài chín mươi, trời thương vẫn còn khỏe tuy hơi lẫn.

Tiếng bà vừa dứt thì tiếng bác Hai cũng ầm ầm cất lên sau khi bà bắt đầu lên cơn đòi đập phá đồ trong nhà “bà đập đi, đập hết đi…”

Chuyện này thường xuyên xảy ra, chúng tôi cũng chẳng còn lạ gì nữa. Chỉ thương bà, suốt ngày khóc lóc, khóc đến đôi mắt chuyển sang màu mờ đục…

Bà tôi có ba người con trai và hai người con gái. Bác Cả mất lâu rồi, bệnh mà mất, hưởng dương ngoài bảy mươi chứ chẳng ít. Hiện còn bác thứ Hai đang ở cùng bà trên mảnh đất rất rộng, hồi ấy tôi thấy nó rộng lắm, đi mãi chẳng hết, lại còn đầy cây ăn quả, đặc biệt là táo.

Cái làng La Khê hồi ấy, đi đến đâu chỉ cần nhắc đến cái tên ấy là người quanh vùng lại bảo “làng La Khê táo rụng”, ngày xưa làng tôi trồng nhiều táo lắm, mỗi nhà ít nhất phải có một hai cây chứ chẳng ít. Dọc con đường làng cũng có trồng, cây táo ấy cao lắm chứ không phải loại thấp như các loại táo bây giờ. 

Quả táo chín thì rụng đầy đường, quả không to, chỉ nhỏ bằng nửa quả trứng chim cút, dù có chín thâm xì ra thì vẫn chua lòm lòm. 

Có mấy bà cụ hay đong táo để bán bằng cái bò bằng vỏ lon sữa ông thọ nên nó còn có tên gọi là táo “bò”. Từ hai trăm đồng một bò, đến năm trăm đồng. Và tận bây giờ thì hiếm thấy người bán nữa. Cả làng cũng chỉ còn lác đác vài cây, nó nghiễm nhiên trở thành của hiếm, mấy bà chửa đang nghén thì khoái món này lắm. Hôm vừa rồi, tôi thấy có bà chị nhà ở đầu làng, bụng chửa vượt mặt đến nhà bà mua táo, nhà bà tôi có còn tận hai cây giống ấy. Bác dâu tôi cho không chứ không có lấy tiền.

Buổi tối tôi sợ chẳng dám lang thang trong vườn ấy, vì nó tối thui, quốc kêu, chuột chạy rầm rầm một góc vườn. Ở góc vườn, ngay cạnh bờ rào sát con mương tưới tiêu của làng, còn có một cái mộ Tổ to tướng. Chúng tôi kháo nhau là ở đấy có ma, nên bố bảo cũng chẳng đứa nào dám lang thang bén mảng vào vườn ấy sau bảy giờ tối cả. 

Các cô con gái của bà cũng đã đi lấy chồng và có gia đình riêng, mỗi người ở một nơi, người gần nhất thì một cây số. Còn xa hơn thì ở huyện khác.

Bác út là liệt sĩ tên Chiến, bà thương bác ấy lắm. Tôi hay nghe người lớn kể, đặc biệt là bà tôi về bác. Hồi còn nhỏ thì ngoan ngoãn, năm mười bảy tuổi bác nhập ngũ rồi vào chiến trường Quảng Trị đóng quân và hi sinh trong đó nhưng không tìm thấy hài cốt. Đây cũng là nỗi canh cánh trong lòng không nguôi của bà tôi cho đến khi bà gần mất.

Bao năm nay các bác, các cô tôi bỏ không ít tiền của ra để tìm hài cốt bác Chiến. Còn nhớ nhiều năm trước có lần tôi thấy bên nhà kháo nhau rằng có người báo tin tìm thấy bác Chiến tôi rồi, thì thất thểu chạy sang xem. 

Hồi ấy tôi mới mười mấy tuổi, đang học cấp ba cũng chẳng hiểu gì đâu.

Thấy bà tôi khóc, thì cũng sụt sùi khóc theo. Bà ngồi trước tấm di ảnh của bác Chiến để trên cái bàn gỗ cũ kỹ, ảnh màu được phục chế lại chứ ảnh gốc thì hỏng lâu rồi, cơ mà bác tôi đẹp trai lắm, khuôn mặt thư sinh, trắng trẻo. Đôi mắt sáng ngời, vầng trán thông minh, môi lại nở nụ cười, trong ảnh bác mặc áo xanh của quân giải phóng, tay áo xắn cao. Ai nhìn vào cũng phải rơi nước mắt bởi tiếc thương, người ra đi còn trẻ như vậy, nhìn lại thì chúng tôi thời nay làm gì chịu khó được như các bác tôi thời đó. Ăn sung mặc sướng quen rồi, nghe người lớn kể, ngày xưa đi lính khổ lắm. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, hành quân thì đi bộ cả mấy trăm kilomet đường rừng, ngày đêm đấu tranh với giặc để giành từng mảnh đất, từng góc thành cho dân…

“Con ơi là con, mày bảo mày chỉ đi mấy năm, đánh giặc xong về với mẹ. Con ơi là con, chẳng đứa nào nó thương mẹ, Chiến ơi…”

Nghe tiếng bà kêu khóc, ai cũng não hết cả lòng. Bà già cả rồi nên lẫn lắm, toàn nhầm người này với người kia, tôi là cháu lại ở ngay sát vách ấy vậy có khi bà còn nhầm với đứa cà lơ phất phơ nào đó nữa là. Cơm mới ăn xong, có người hỏi lại bảo chưa ăn, bị chúng nó bỏ đói. Lúc đầu nghe thấy thế thì bác Hai tôi giận lắm, toàn lớn tiếng nạt bà, mỗi lần như thế bà tôi lại run rẩy chạy đến trước bàn thờ bác Chiến vừa khấn vừa kêu khóc, rồi mách hệt như đứa trẻ con bị người ta bắt nạt.

Sau riết rồi cũng quen, bố mẹ tôi khuyên nhủ nên bác ấy cũng mặc kệ bà muốn mắng muốn chửi ra sao cũng được. Chỉ có bác Chiến là bà chẳng quên bao giờ, thỉnh thoảng tôi sang chơi còn thấy bà cứ ngồi trước bàn thờ bác rủ rỉ nói cái gì ấy, như đang trò chuyện với bác tôi vậy.

Khói hương trong nhà nghi ngút, căn phòng của bà nhỏ lắm, nó lại tối om om, bóng đèn tiết kiệm điện có thắp lên cũng chẳng sáng sủa mấy, bảo bà mở cửa bà không chịu. Kế bên phòng bà là gian thờ, tiếp đó là một gian để trống, có kê thêm một cái phản gỗ cho khách đến chơi thì ngồi ở đấy.

Đây là căn nhà cũ mà ngày xưa gia đình bà tôi ở, nhà sáu người nhồi nhét hết vào một cái nhà ba gian nhỏ thó lại còn ẩm thấp, nếu không có mùi hương khói thì sẽ là mùi ẩm mốc. Bờ tường dù đã sơn lại mấy lần nhưng chạm vào vẫn thấy âm ẩm, nhiều khi tôi tự hỏi có khi nào nó bở ra rồi sụp xuống không nhỉ? Nhưng đấy chỉ là suy nghĩ trong đầu, có cho tiền tôi cũng không dám hỏi, sợ bị người lớn trong nhà mắng lắm.

Bác Hai tôi đã xây nhà lớn ở ngay kế bên, nhiều lần ngỏ ý bảo bà lên trên nhà đó ở để phá nhà này đi nhưng bà tôi không chịu. Lần nào cũng chửi bới bảo “đây là nhà của thằng Chiến, chúng mày phá đi đến lúc nó về nó làm sao tìm được nhà? Chúng mày muốn đuổi em đúng không?” Rồi lại kêu giời kêu đất lên.

Tôi bị sặc hương thì ho lên sù sụ, mắt bị khói bay vào cay xè, không chịu được nên phải chạy ra ngoài, lúc này còn mình bà ngồi ở đó.

Người ta kéo đến đông lắm, xe đón người đi vào nghĩa trang trong Quảng Trị cũng đến rồi. Ông thầy pháp nổi tiếng nhất làng đang ngồi uống trà với các cô tôi, thấy bảo đợi giờ đẹp là khởi hành đi ngay.

Cả làng có hai liệt sĩ, một là bác Chiến tôi, hai là bác Tâm con trai ông thầy pháp chuẩn bị đi đón bác tôi về kia. Bác Tâm thì tìm thấy hài cốt lâu rồi, chỉ còn bác tôi là chưa được về nhà.

Người đi rồi, còn lại căn nhà vắng tanh lạnh lẽo, mùi khói hương quẩn quanh từng ngóc ngách, thấm cả vào chăn màn, quần áo tôi cũng ám đầy. Bà tôi ngồi ngẩn người nhìn ra ngoài sân, tôi đứng ở bậu cửa nhìn bà.

Trước cửa căn nhà bà tôi ở là cây nhãn lồng cổ thụ, nó còn nhiều tuổi hơn cả mấy đứa bọn tôi, nghe đâu là ở đấy hơn ba mươi năm có lẻ rồi. Ấy vậy mà cành lá xum xuê lắm, năm nào cũng ra đầy quả vật cành.

Trước lúc đi, mọi người dặn tôi ở nhà trông bà, chiều tối con gái lớn bác tôi đi làm về thì sang ở cùng bà tôi hai ngày này.

Khuôn mặt bà hốc hác, làn da nhăn nheo xô lại với nhau cùng những vết đồi mồi lấm tấm hiện lên nom càng khắc khổ. Mái tóc bạc trắng tinh như sợi cước, do vật lộn khóc lóc kêu than khi nãy thì giờ đã rối bời, nói thật là tôi hơi sợ khi phải ở một mình với bà. Bởi tôi hay nghe mấy người lớn trong làng bảo người già quá rồi sẽ “thành tinh”. Mà bà tôi cũng hơn chín mươi tuổi rồi, xong suốt ngày điên điên dại dại nên tôi sợ lắm.

Nhưng nghe người ta bảo bà mình thế thì cũng tức, tại từ bé tôi hay sáng bám chân bà để được cho lộc lắm, với cả bà tôi hiền lành, thương con thương cháu, lại cứ lủi thủi chờ tin bác Chiến thì thương lắm. Có hôm tôi cãi tay đôi với một bà chua ngoa có tiếng ở  làng, tại bà ấy bảo bà tôi bị trời đày nên dở dở điên điên, muốn chết cũng không chết được, rồi làm khổ con khổ cháu.

Thật ra chẳng phải mỗi mình bà ấy nói vậy, đầy người nói, nhưng thái độ người ta không khó chịu như bà kia. Họ chẳng biết là bà tôi còn canh cánh trong lòng, con trai đang nằm bờ nằm bụi nào, có được người ta nhang khói hay không? không mang được bác về nên chẳng an lòng mà đi, cái này phải mãi tận sau này khi lớn lên tôi cũng mới ngẫm ra được.

Thấy bà thẫn thờ thất thểu, nước từ hai hốc mắt cứ thế rịn ra mà chẳng mảy may động đậy để lau đi thì tôi thấy thương lắm, cứ đứng nép ở cửa trông vào mà khóc theo.

“Con chải tóc cho bà nhé!”

Tôi rụt rè ngỏ ý, bà ngước mắt nhìn tôi chằm chằm mà không trả lời.

“Cho đẹp, rồi bác Chiến, bác ấy về mới nhận ra bà chứ… con nghe nội con bảo ngày xưa bà đẹp nhất làng” tôi tiếp tục, lần này đã bước vào gần cái phản chỗ bà đang ngồi, khuôn mặt mới vừa mếu máo đã cười toe nịnh bợ.

“Ừ, con chải đi, thằng Chiến nó cũng hay chải tóc cho bà lắm. Nó bảo tóc mẹ mượt như cái râu ngô, cha bố nó, râu ngô nào mượt?”

Nghe bà nói vậy, tôi chẳng hiểu thế nào mà nước mắt lại cứ trào ra, nghẹn bứ cả họng đi, sợ bà biết thì lén đưa tay quệt vội rồi lau vào quần.

Tóc bà mượt lắm, bạc trắng hết cả rồi, chẳng còn sợi đen nào cả. Tôi sờ vào mà mát lạnh hết cả tay. Bà quay người nhìn vào tấm ảnh bác tôi trên bàn thờ, vướng cái cột nhà nên chỉ thấy được một góc. Khói hương lại tỏa vòng vòng nên càng mờ nhạt, rồi bà huyên thuyên kể chuyện ngày xưa hồi bác còn nhỏ, ánh mắt bà đầy cảm xúc, khuôn nhan cũng rạng rỡ hơn nhiều.

Bà bảo, hồi bà sinh bác Chiến ra thì ông tôi mất, các bác các cô khi ấy lớn cả rồi, bác Chiến tôi là vỡ kế hoạch lại hay ốm vặt nên được bà thương nhiều hơn, thương cả phần của người cha. May trời thương, bác tôi cứ thế ăn khoai ăn sắn mà lớn lên, còn biết nấu cơm, quét nhà trông gà cho mẹ khi bà tôi đi vắng. Nhiều hôm bà về muộn, bác chờ cơm không được thì ôm bụng đói meo nằm gục bên mâm cơm đợi mẹ về. Bác tôi sống tình cảm lắm.

“Nó không ăn trước đâu, toàn bảo phải chờ mẹ về mới ăn, không có cái ngon lỡ ăn hết mất.”

Thuở nhỏ, bác hay theo bà đi gánh nước ở cái giếng cổ đầu làng. Cứ mẹ đi trước, con líu ríu chạy theo sau. Thời của bà phải đi gánh nước xa lắm. Tôi bây giờ đi bộ ra đấy còn muốn rụng cả cái chân trong khi đường đã trải bê tông thẳng băng một đường, dễ đi chứ ngày trước toàn đi qua bờ ruộng, lại còn bé tí teo. 

Bây giờ người ta dùng nước máy, không thì cũng khoan giếng tại nhà, chứ chẳng ai còn dùng nước trong cái giếng ấy nữa. Nó trở thành nơi chứa nước để tưới rau cho cả làng, người ta vứt rác, vứt vỏ thuốc sâu xuống đầy nên nó thành ra ô nhiễm nặng rồi. Thấy bà tôi gánh nặng, bác Chiến còn đòi gánh giúp khi ấy bà chỉ bật cười mắng yêu “cha bố anh, thân mình còn chẳng đi đứng lên hồn, làm sao mà gánh được.”

“Bà mắng thế thì nó nhăn răng ra cười, lúc ấy nó gầy lắm con ạ, lỡ mà cởi trần ra thì toàn thấy xương sườn không. Không béo tốt như mấy đứa bây bây giờ đâu.” Giọng bà nghẹn ngào, khuôn miệng móm mém nhai trầu thỉnh thoảng còn như đang mỉm cười.

Lớn hơn một chút, bác Chiến thích chơi đánh trận giả, luôn miệng bảo lớn lên sẽ đi bộ đội đánh giặc. Bà chỉ cho rằng đó là niềm yêu thích chơi đùa của đứa trẻ con nên còn nói đùa ủng hộ. Về sau, năm bác mười sáu tuổi có đợt tuyển quân, bác tôi tham gia thật, nhưng năm đó bác gầy gò nhỏ thó nên không được tuyển. Bác về khóc mất mấy ngày bảo người ta thiên vị, khi ấy bà tôi chỉ cười, trong lòng thầm cảm thấy may mắn lắm.

Chẳng biết bác nghe ai bảo phải ăn nhiều, tập hít đất mỗi ngày hai trăm cái, thì mới đủ tiêu chuẩn nhập ngũ, thế là bác Chiến nghe theo…

“Rồi nó được chọn, hôm ấy về bà cầm cái đòn gánh to bằng cái ống tre già kia kìa, phang cho mấy phát. Nó vừa khóc vừa bảo, nó đi đánh giặc xong nó về lấy vợ sinh con cho bà bế…”, bà tôi cười, vậy mà nước mắt không ngừng rơi, tôi nhìn theo bà ra bụi rào tre trước cửa, hai hốc mắt đã cay xè.

Hai ngày sau đoàn người đi rước hài cốt trở về, nhưng ngược lại với sự mong đợi của chúng tôi những người ở nhà, là vẻ mặt buồn rầu của họ. Không đón được bác tôi về, tôi nghe cô thứ ba bảo với mẹ tôi là không phải hài cốt của bác tôi, nhà mình bị người ta lừa.

Ông thầy pháp bảo có khi vô vọng rồi thì làm hài cốt giả cho bác tôi rồi thờ cúng. Đến ngày tuần rằm, mùng một, lễ chạp, đám giỗ thì cứ khấn như bình thường cũng được, ông ấy làm phép cho. Các bác tôi nghe thấy có lý thì đồng ý, mà không nói với bà tôi, nhưng bà biết, bà giận lại chửi bới một trận. Làm cả nhà ầm ĩ hết cả lên, ai trông cũng não nề.

Nghe bà khấn mà thấy tội, bà bảo bác ở đâu thì về báo mộng cho mẹ mẹ tự đi tìm con, không cần lũ vô lương tâm gian dối kia nữa. Chúng nó thấy con nằm ngoài đường ngoài chợ cũng không thương, không biết thương em chỉ biết sống cho mình. Chỉ trực chờ bà chết để chia nhà chia đất. Bác Hai nghe thấy thế thì nổi giận, chỉ mặt bà bảo là bác nuôi bà, vợ bác tắm rửa phục dịch bà thì chẳng được câu tử tế nào, cái thằng bất hiếu chết rồi thì suốt ngày thương…

Không những không làm bà nguôi giận, càng ầm ĩ hơn. Bà bảo, bà sống bằng tiền mẹ liệt sĩ nhà nước cấp cho, là cái đứa liệt sĩ bất hiếu chết rồi nuôi bà, chứ chúng nó nuôi được bà ngày nào mà kể công? Bà tôi lẫn nhưng những cái cần nhớ bà vẫn nhớ kỹ lắm. Khi bà nói vậy thì chẳng ai lên tiếng nữa, tất cả đều tản ra, mặc kệ bà gào khóc.

Bà nội tôi ở lại vừa an ủi vừa dỗ bà, phải bảo nếu bà cứ khóc lóc, bác tôi buồn bác không về nữa thì mới chịu nín.

Sau lần ấy, bà tôi ốm một trận lớn tưởng rằng không qua được, nhưng chẳng biết là do trời thương hay bác tôi phù hộ. Nửa tháng sau bà khỏe lại, mặc dù thần trí còn lẫn hơn cả trước khi ốm.

Những ngày này tôi hay chạy sang nhà bóp chân cho bà lắm. Đầu giường bà có một cái đài cát sét cũ kỹ, thỉnh thoảng bà vẫn nghe tin thời sự trên ấy, rồi mấy chuyên mục chỉ phát trên radio, thề là nó chán lắm. Nhìn cái tivi mới quánh đắp khăn để đấy mà tôi tiếc hùi hụi, riết rồi chắc bà cũng chán thì hỏi tôi:

“Con có biết bật tivi không?”

Tôi gật đầu, trong lòng vui lắm, bà cho bật tivi.

Trên tivi đang mở chuyên mục “Nhắn tìm đồng đội”, tôi cứ thấy bà nhìn chăm chăm vào đấy thì nảy ra ý định bảo bà hay mình cũng gửi lên chương trình này nhờ người ta tìm giúp, bà nghe thấy thế thì đồng ý ngay. Giấy chứng tử bà đưa tôi, còn cẩn thận bảo phải giữ thật kỹ cho bà, tên bác tôi ghi rõ ràng ở trên đó.

Tôi chẳng biết làm sao để gửi nó đi nên đành nhờ cô giáo chủ nhiệm gửi giúp. Lúc đưa cái phong bì cho cô rồi tôi còn run lắm, trống ngực cứ đập uỳnh uỳnh, chỉ sợ lỡ mà mất giấy tờ thì chết. Rồi lỡ cô, bác mà biết thì chắc giết chết tôi vì tội xúi giục người già mất. Thật may chỉ cần giấy tờ bản sao, ngày hôm sau cô giáo chủ nhiệm trả lại bản gốc cho tôi mang về.

Cứ đến giờ phát chương trình nhắn tìm đồng đội là tôi có mặt ở bên nhà bà, tivi mở bé bé, hai bà cháu phải ngồi sát lại mới nghe người ta đọc được, hôm nay lại không có tên bác tôi. Ngày mai lại tới, vẫn không có…

Rồi cuối cùng cũng thấy, là người thứ ba ngay sau hai bác nữa.

“Liệt sĩ Lương Văn Chiến

Sinh năm 1949

Quê quán La Khê, Quảng Ninh

Nhập ngũ năm 1966

Đơn vị d32 thuộc KH

Hi sinh ngày 05/01/1969”

 Nghe người ta đọc mà tim tôi như muốn nhảy ra ngoài, vừa mừng vừa giật giật tay bà tôi, “có bác rồi, có bác Chiến rồi bà ơi!”

“Như này là tìm được thằng Chiến hả con?”

Nghe bà hỏi thế, tôi chợt ngẩn ra. Tôi cũng không biết nữa, bàn tay bà âm ấm cứ nắm chặt lấy tay tôi. Tôi còn cảm nhận được bà đang run rẩy, nhìn ánh mắt đầy tia hy vọng của bà, tôi tự nhiên thấy sợ. Lòng tự hỏi, rủi mà không tìm được bác thật thì phải làm sao?

Mấy ngày này tôi cứ canh cánh trong lòng, còn chẳng dám chạy sang bên đó, chỉ sợ bà thấy lại hỏi có người liên lạc chưa.

Một tuần sau tôi lại lò dò định đi sang, tại bác dâu tôi cứ mỗi lần sang nhà chơi lại bảo bà hỏi mày làm tôi sốt ruột lắm.

Mẹ thấy tôi hay chạy sang đấy nhiều lần hỏi dò nhưng tôi không dám nói. Chỉ bảo sang bóp chân cho bà, bà thắp hương bác Chiến xong sẽ cho hoa quả rồi chạy biến đi.

Những lúc như vậy tôi sợ lắm, cảm giác cứ như đứa ăn trộm bị bắt gặp ấy. Về căn bản thì cũng chẳng ai để ý đến một đứa con nít ranh mười mấy cái tuổi đầu với một bà cụ già lẩm cẩm làm gì với nhau đâu. Bà cũng chẳng chia đất cho tôi đâu nên chẳng ai thèm đề phòng ấy chứ, tôi thì cứ sợ vậy thôi.

Thấy tôi sang bà lại dặn, tay bà lạnh ngắt cứ run run bám lấy tôi, “người ta mà báo tin thì con phải báo cho bà biết trước nhé! Rồi bà bán đất bà đi tìm thằng Chiến về, chứ cái lũ kia chúng nó là quân lừa đảo… mấy lần nó về báo mộng là ở đấy lạnh lắm, nhớ mẹ, nhớ nhà…”

Buổi trưa hôm ấy, một ngày chủ nhật giữa tháng sáu nóng muốn chảy mỡ, nhà tôi đang ăn cơm thì có khách đến. Con chó Vện xích ở góc nhà cứ sủa inh ỏi hết cả lên, tôi nhanh chân nhanh tay chạy ra mở cổng. Phải quát nó mấy câu con Vện mới chịu im. Là cô giáo chủ nhiệm, tôi ngớ cả người, tự nhiên cô đến nhà tôi làm cái gì nhỉ? Tôi không nhớ là mình có gây ra cái tội gì ở trường đâu?

“Cháu nhà em nó có chuyện gì hả cô?”

Cô mới bước vào tới bậc tam cấp thì bố đã quắc mắt nhìn tôi một cái, rồi lại hỏi cô giáo như thế. Mẹ tôi rót trà xanh mới nấu cho cô, tôi thì vừa dọn mâm bát vừa dỏng tai lên lén lút nhìn ba người họ.

“Cháu ngoan, không gây chuyện. Em vừa nhận được điện thoại, có người trong Quảng Trị báo tin biết hài cốt bác Chiến nhà mình ở đâu đấy…”

Giọng cô đầy hứng khởi, bố mẹ tôi nghe thấy thì ngớ cả người. Còn tôi, hai cái bát tô chồng lên nhau vừa mới nhấc lên đã trượt tay rơi xuống nền gạch hoa, thiếu tí nữa là vỡ rồi, thật may chỉ sứt một tí.

“Thấy rồi hả cô ơi, em phải đi báo cho bà…”

Tôi mừng quýnh, thì cuống quýt hết cả lên. Bố mẹ chưa rõ chuyện lắm cứ mơ mơ hồ hồ hỏi han. Mẹ thấy tôi bỏ mâm bát đấy thì cản lại bảo cứ từ từ để xác thực thông tin hãy báo không lại giống lần trước. Tôi nghe thế thì sững người đi, ừ nhỉ, nếu mà giống lần trước… Rồi bà lại lăn đùng ra ốm khéo lần này không qua được mất.

Bà nội tôi ở trong buồng cũng đi ra nghe cô giáo kể, nghe được thông tin bà mừng lắm, còn thắp hương lên bàn thờ khấn lạy tổ tiên. Thông tin về người báo tin cô giáo chủ nhiệm tôi ghi chi tiết lắm, từ họ tên, địa chỉ, số điện thoại rồi là tại sao lại biết… đầy một trang giấy a4.

Cô cẩn thận thật, này là lời bố tôi bảo.

Gia đình tôi lại một lần nữa đi vào Quảng Trị, lần này đi cùng còn có người của ban Mặt Trận Tổ Quốc của huyện tháp tùng, rồi thì người ta dẫn đến tận nơi, chỉ tận mộ. Còn bảo dưới mồ có vật dụng của bác Chiến tôi nữa. Cả nhà ai nghe được cũng mừng, các cô tôi thì sụt sùi nước mắt, lần này tôi được đi theo vì bà nội tôi bảo nhờ có tôi nên mới tìm được bác. Còn cẩn thận dặn dò tôi phải để ý đừng để họ mang hài cốt người khác về lừa bà.

Nắng miền trung như thiêu như đốt. Gia đình tôi phải chờ ở nghĩa trang rất lâu để đợi người ta xác nhận giấy tờ, tại đi gấp quá nên thủ tục xin hài cốt còn chưa hoàn tất. Đấy, nó phải thế chứ, lần trước cô tôi bảo người lừa đảo kia dẫn họ đi lòng vòng, còn bảo phải đợi đến đêm mới ra đào trộm mộ, chứ ở đây người ta không cho mang hài cốt về đâu. Rồi họ nhận tiền ứng trước của gia đình tôi, nửa đêm cũng chẳng thấy người thì khi ấy mới ngớ ra là gặp phải bọn lừa đảo.

Tôi nghe kể mà chỉ hận không đến tận nơi túm cổ đánh cho họ một trận, mấy người không có đạo đức ấy. Họ nghĩ nhờ ai mà có cuộc sống bình yên như bây giờ? Không phải nhờ những người đã nằm xuống nơi đất lạnh kia hay sao mà còn chà đạp lên niềm tin, hy vọng của người thân của những người anh hùng ấy để kiếm tiền?

Giữa nghĩa địa mênh mông, những nấm mồ san sát cạnh nhau, bên trên đều cắm một nén hương còn đang cháy dở. Tôi nghe người quản trang bảo ở đây đều là phần mộ của các liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh. Có nhiều người khuyết danh chưa có ai nhận lắm, nhưng họ không cô đơn. Ở đây còn có anh em, đồng đội.

Hàng năm có cả mấy trăm lượt người đến xin hài cốt, nhưng có nhiều người được thầy pháp gọi lên lại không muốn về, bảo ở đây lâu rồi chỉ muốn ở cùng anh em đồng đội cho có bạn có bè.

“Năm vừa rồi có một liệt sĩ người Gia Lâm, được thân nhân vào đón. Nhưng lúc kiều lên thì ông bảo không về. Bạn thân của ông còn ở đây không có người đón rước, ông mà về rồi để lại một mình bạn sẽ cô đơn nên bảo con cháu hàng năm vào cúng bái thì cúng cả hai người.”

Tôi nghe thấy thế thì lạnh hết cả sống lưng, lúc ấy không nhịn được còn buột miệng hỏi “thế á?”, bác cũng rất ôn tồn trả lời:

“Ừ, tâm linh không đùa được đâu con ạ! các ông, các bác ở đây sống tình nghĩa, hy sinh rồi cũng không bỏ nhau đâu. Ngày xưa chiến tranh khổ lắm, làm gì có cơm gạo như bây giờ mà ăn, miếng lương khô bẻ làm ba làm bốn, hộp sữa được cấp cũng phải chia nhau…”

Bác quản trang nheo nheo mắt nhìn ra ngoài nắng, nơi những mầm mồ được lát đá hoa màu tím đỏ, bị nắng chiếu xuống ánh lên tia sáng trắng chói lòa. Tôi cũng mạnh dạn hỏi bác là sao cái người mà bác kể không bảo gia đình tìm người thân giúp bạn mình, thì bác bảo có tìm nhưng không được, lúc đến quê người bạn kia thì người thân chả còn ai cả.

Nghe thật sự xót lòng.

Người đưa tin cho gia đình tôi là một người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, là con trai của người chôn cất bác tôi và ba người nữa trong chiến tranh. Lần đó lúc thấy thông tin tôi nhờ người đăng trên chuyên mục “Nhắn tìm đồng đội” nên ông đã bảo con trai liên lạc ngay. Tại lúc ấy cuống quá, tôi lại chẳng có điện thoại. Không biết phải làm thế nào thì để thông tin của cô giáo chủ nhiệm nên họ gọi tới số của cô.

 Ba người liệt sĩ kia đều được gia đình ông báo tin nên tìm thấy và mang hài cốt về hồi năm ngoái, chỉ còn lại mình bác tôi. Chú ấy chỉ vào hai huyệt mộ ngay gần chỗ chôn cất bác tôi, đã được người ta mang hài cốt bên trong đi, giọng nói đều đều lại có phần nghèn nghẹn:

“Hồi đó, cả thành cổ Quảng Trị bị bom Mỹ san bằng, hàng ngàn chiến sĩ hi sinh còn chưa lấy được hết hài cốt vì bom đạn khói lửa, xương máu của họ đã hòa quyện vào gạch đá, đổ nát hết cả rồi…”

“Sao con thấy hài cốt mang đi rồi mà mộ vẫn còn nguyên ạ?” Tôi tò mò.

“Hài cốt mang đi rồi nhưng chúng tôi vẫn hương khói để tưởng niệm công lao của họ đấy con.” Bác quản trang giải thích, lúc này tôi mới vỡ lẽ ra.

Sau khi hoàn tất thủ tục xin hài cốt bác Chiến, chúng tôi theo chân người đưa tin về nhà bác ấy nghỉ ngơi. Vì tận ba giờ sáng hôm sau mới được bốc mộ đưa hài cốt đi. Nghe ông thầy Pháp bảo vậy, cái này tâm linh tôi không rõ lắm, người lớn bảo gì thì cứ nghe như vậy thôi.

….

Đúng một giờ sáng, người trong nhà đã lục tục dậy, chuẩn bị ra nghĩa trang đón bác tôi về. Ông cụ chôn cất bác tôi hồi đó đã đứng trước bàn thờ. Trên đó để tận năm sáu bức di ảnh, toàn những người rất trẻ, họ đều mặc quân phục, có cả của bác tôi trên đó. Ở góc mỗi tấm đều có ghi họ tên nhưng đã mờ đi nhiều. Hôm qua lúc nghe mọi người nói chuyện tôi mới biết, đây đều là những đồng đội mà ông quen biết và chôn cất hoặc biết chỗ họ nằm xuống ở đâu. Hồi ấy ông là trung đội trưởng ở đơn vị của bác tôi. Hơn bác Chiến gần hai chục tuổi, hơn cả tuổi bác Hai tôi lúc bấy giờ.

Lúc ông thầy pháp làm phép kiều bác tôi lên, bác nhập vào cô thứ ba, khi ấy tôi lại không thấy sợ như mọi lần, cứ trân mắt ra nhìn. Chứ thường thì tôi sợ ma lắm. 

Nhưng thật kỳ lạ, bác hiện về mà tôi chẳng thấy có giông tố, hay mây đen ùn ùn kéo đến như trong mấy bộ phim hay xem trên tivi ấy. Lúc này trời vẫn còn tối thui, tôi chỉ thấy lạnh vì đang ở giữa nghĩa trang, toàn mồ mả thỉnh thoảng lại có tiếng ếch nhái hay con gì đó kêu lên. 

Cô tôi khi ấy chỉ rùng mình một cái rồi đứng im bất động, sau đó ông thầy pháp bảo là bác Chiến về rồi thôi. Lúc ấy cả nhà tôi thi nhau vái lạy, cô thứ tư thì vừa khóc vừa khấn bảo “Em ơi, về đi… theo anh chị về. Ở nhà có mẹ mong… Chiến ơi!!!”

Khói hương mù mịt, tôi đang đứng đực ra đó liền bị ai đó kéo xuống thì cũng chắp tay lẩm bẩm bảo bác thương bà thì theo cả nhà về, chứ bà nhớ với mong bác lắm… mà chẳng biết bác có nghe được lời khẩn cầu của tôi hay không? Chỉ biết lúc bác thứ hai còn hỏi đùa là “thế chú muốn theo anh chị về, hay ở đây ham vui với anh em đồng đội?” thì cô tôi bật cười khanh khách, tôi nghĩ là bác Chiến tôi cười thật ấy chứ bình thường cô tôi điềm đạm lắm, không giống cô thứ tư ăn to nói lớn. Bác Chiến bảo: 

“Em về với mẹ thôi, mẹ mong em lắm anh ạ! Đấy anh xem, anh em đồng đội cũng bảo em về đi thôi!”

Nghe bác Chiến nói thế, rõ ràng cô thứ hai vẫn cười mà tôi thấy ai cũng rơm rớm nước mắt. Riêng tôi vừa khóc mếu vừa ráo rác nhìn quanh, bác bảo đồng đội bảo bác về, tôi nghe thế thì cứ  nổi hết cả da gà lên. Tôi tin là có ma thật, nhưng đứng giữa cả một rừng anh linh thế này thật sự là ngoài sức tưởng tượng của một đứa trẻ như tôi rồi. Lúc ấy tôi còn lẩm bẩm khấn bảo mong các ông, các bác sớm được người nhà tìm về, bác Chiến con phải về rồi, bà con mong bác lắm…

“Em về các anh nhé!”

Cô tôi mỉm cười tươi rói nhìn đau đáu ra khu mộ liệt sĩ mênh mông thốt lên mấy lời ấy. Sau đó cô dơ tay lên trán như đang chào cờ, vừa hạ tay xuống thì ngất lịm đi.

Mọi người hoảng quá xúm vào xem thì bị ông thầy Pháp quát, ông bảo bác Chiến đi rồi. Còn bảo một hai người đỡ cô tôi lên thôi, xúm cả vào lấy đâu ra không khí cho cô thở.

Trời rạng sáng, được sự giúp đỡ của Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc xã Gio An chúng tôi hoàn tất việc di dời hài cốt bác Chiến đưa về quê hương.

Xe lăn bánh, tôi vẫn đau đáu nhìn vào những hàng mộ thẳng tắp trong lòng gợn lên sự xót thương, lại thầm cảm ơn những người đã ngã xuống để cho mình có cuộc sống yên bình như ngày hôm nay.

Dù không phải người thân, nhưng nhìn vào những nấm mồ liệt sĩ còn để vô danh không người nhận thật sự khó tránh khỏi sự chạnh lòng, đau xót. Chỉ hi vọng, một ngày nào đó, họ sẽ được đón về với gia đình, nơi đất mẹ đã sinh ra.

Sau khi làm lễ truy điệu theo nghi thức của quân đội, bác tôi được đưa vào nghĩa trang liệt sĩ của xã để an táng. Nửa tháng sau ngày đón bác về bà tôi cũng mất, bà ra đi thanh thản nhẹ nhàng lắm, tôi nghĩ vậy.

Sáng hôm ấy, bác dâu tôi mang đồ ăn sáng sang cho bà thì thấy bà nằm im bất động trên giường, tấm chăn chiên còn đắp hờ trên bụng. Bác tưởng bà chưa dậy thì lay gọi, nhưng chả hiểu linh tính thế nào mới vội kiểm tra, thì người bà tôi đã lạnh ngắt đi rồi.

Bác tri hô lên thì cả nhà tôi cũng chạy sang, lúc ấy là bảy giờ mười lăm sáng. Tôi không kịp đến trường, bà tôi mất, hưởng dương chín mươi lăm tuổi.

Chiếc lược bằng vỏ bom được gọt dũa cẩn thận đặt trước di ảnh bà, trong ảnh là người phụ nữ với mái tóc bạc phơ, khuôn miệng móm mém nhưng ánh mắt lại rất tươi vui. Có lẽ bởi đã đợi được con trai trở về với bà rồi nên mới như vậy.

Tôi khóc, hai mắt mờ cả đi vì nước mắt. Miệng lẩm bẩm “bà ơi, bà ra đi nhẹ nhàng, dưới đó có bác Chiến vui vầy cùng bà rồi…”

Chiếc lược kia là kỷ vật cuối cùng bác Chiến tôi để lại, hồi bác đi đã lén lấy của bà mang theo bên mình. Nên khi vừa nhìn thấy nó bà đã nhận ra ngay mà chẳng cả cần nghe đọc phiếu xét nghiệm ADN. Nó là đồ bố bác tặng cho bà thời ông đi kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng trở về, chẳng có gì nhiều, một balo bạc màu cũ kỹ, một thân thể không vẹn toàn do hậu quả chiến tranh để lại và chiếc lược làm bằng mảnh bom làm quà tặng cho người vợ kết tóc là bà tôi. 

Hôm nay là hai mươi bảy tháng bảy, tôi cùng bạn trai cũng là bộ đội sang nhà thắp hương cho bác Chiến, vậy là đã mười năm ngày bác được đưa về quê hương. Cũng là mười năm ngày bà tôi mất. Cuối cùng bà cũng trút được nỗi lòng trước khi ra đi. 

Mỗi người chúng tôi, đều thầm biết ơn những người đã ngã xuống cho hòa bình của Tổ quốc ngày hôm nay.

 

Bài cùng chuyên mục

Bodhi

Bodhi (4 năm trước.)

Level: 16

84%

Số Xu: 20432

Cỏ

Sau khi đọc truyện của bạn viết mình có vài cảm nhận, mong bạn không giận. KHi mình đọc nhan đề mình đã nghĩ sẽ là một câu chuyện rất...

Cảm ơn bạn đã đọc truyện và góp ý cho mình nhé! Mình rất sẵn lòng để nhận được những nhận xét chân thực nhất từ người để có thể hoàn thiện các tác phẩm của bản thân. Một nữa cảm ơn bạn ?


Cỏ

Cỏ (4 năm trước.)

Level: 11

78%

Số Xu: 7003

Sau khi đọc truyện của bạn viết mình có vài cảm nhận, mong bạn không giận. KHi mình đọc nhan đề mình đã nghĩ sẽ là một câu chuyện rất cảm động về hành trình đi tìm hài cốt liệt sĩ. Bạn đã khai thác một câu chuyện có thật và dùng ngôi kể thứ nhất làm tăng tính chân thực, điều đó khiến người đọc được hòa vào nhân vật và dễ cảm nhận. Nhưng khi đọc mình thấy truyện hơi đều, mình nghĩ ở truyện này nên khái thác tâm lí nhân vật "người bà" người đọc sẽ dễ xúc động hơn, mình thấy thỉnh thoảng bạn để nhân vật tôi bộc lộ cảm xúc nhưng mình thấy tác dụng ngược lại là hơi sáo, kiểu như là câu chuyện kể bằng lời. Ví dụ những cảnh khóc lóc của nhân vật, Tôi khóc mắt mờ đi, miệng lẩm bẩm... Về dùng từ mình thấy có vài đoạn bạn dùng từ chưa chính xác lắm, vú dụ một đoạn bạn viết là não hết cả lòng, từ hết cả khi thêm vào làm bổ ngữ cho danh từ thường với nghĩa tiêu cực như sốt hết cả ruột, chán hết cả người, vì thế bạn nên để là não lòng. mà ở đây bạn muốn biểu đạt ý thương cảm, buồn thương. Mình thấy bạn tách đoạn rất lắt nhắt, không biết có dụng ý nghệ thuật gì không nhưng khi đọc thấy hơn nản một chút. Dù sao đối với mình đây là một câu chuyện rất ý nghĩa, mình nghĩ rằng bạn là một cây bút rất có tài, hi vọng bạn viết nhiều để mình được đọc thêm nữa nha. Nếu nhận xét có gì làm bạn không hài lòng mong bạn bỏ qua nhen


Audio truyện full

phàm nhân tu tiên audio

tiên nghịch audio

vũ thần chúa tể audio

thế giới hoàn mỹ audio

vô thượng thần đế audio

van co than de

Bảo Hộ Tộc Trưởng Phe Ta audio

Truyện ebook dịch full

bắt đầu 3000 lượt rút thăm, ta trực tiếp thành bá chủ dị giới

bất diệt thần vương

chư giới tận thế online

đại phụng đả canh nhân

sư huynh ta quá ổn trọng