Vương – Đoạn trường vong quốc truyện

Vương – Đoạn trường vong quốc truyện
Thích

Chú ý: Truyện viết lại (đã xin bản quyền) từ truyện ngắn Vương của tác giả Lục Minh. Link gốc ở đây:

https:// vnkings. com/ vuong. html

100% hư cấu, đừng nghĩ nó là thật.

~oOo~

 

Nơi nào đó của nước Nam Việt, khoảng ba năm sau ngày Cổ Loa sụp đổ.

 

Thung lũng núi Kim, miền đất trù phú nằm lọt thỏm giữa rặng núi hình cánh cung cùng tên, bao bọc bởi hàng hành lớp lớp núi non xung quanh với duy nhất con đường độc đạo dẫn vào từ phương Nam, đi ngược lên Bắc và chia nhánh sang các miền khác, là nơi tọa lạc của thành Kim. Đặt tên theo đỉnh cao nhất của cả dãy núi, đỉnh Kim trong ngũ hành, tòa thành to lớn, sầm uất này được xây tựa hẳn vào núi, với ba mặt ngoài bao tường cao đến nửa thốn, xây từ đất đắp chặt, bên ngoài ốp đá núi lớn, dày sáu trượng. Các mặt tường bao ngoài cùng dài khoảng một lý, với mỗi tường một cổng lớn, dựng kiểu mái vòm cong cong nằm ngay chính giữa. Phía trên, vách được nâng thêm một phần, vươn bằng nửa thân người lớn, cùng những đoạn không liền nhau nhô hơn nữa, tầm hai phần ba trượng, vừa vặn che chắn binh lính bên trong.

 

Trái với vùng đồng bằng xung quanh xanh tươi, xinh xắn với những cánh đồng lúa nước mới vào mùa gieo mạ vẫn còn xanh rì màu lá non và sắc xanh của trời, cùng những ngôi làng nhỏ dựng lên xung quanh, với những hàng cây xanh um cực kỳ nên thơ, thành Kim chính là sự tồn tại được ví như “tấm khiên không thể vỡ” của nước Nam Việt. Do chính Triệu Vũ Đế cho xây dựng làm trung tâm luân chuyển, giao thương từ các thành mặt Bắc, Tây và trực tiếp kinh đô Phiên Ngung xuống vùng đất Âu Lạc cũ, thành Kim vững chãi vô cùng. Có thế núi tạo thành bức thành chắn tự nhiên, trên núi lại xây nhiều pháo đài phòng ngự, thành dựng thêm hai vòng tường trong nữa, đều lấy vách đá làm gốc. Phủ Thành chủ nằm ở nơi trong cùng, to lớn xa hoa, vươn cao hơn mọi công trình bên trong.

 

Người thành Kim đa số là dân buôn bán, vì nơi này nằm trên trục đường chính từ Nam Việt gốc xuống miền Âu Lạc, lại có những đường mòn thuận tiện di chuyển, nên thương mại phát triển vô cùng. Các dãy phố mọc lên san sát những tiệm là tiệm, hàng ăn có, hàng lụa có, ngay đến như tiệm rèn và kỹ viện cũng không thiếu. Dân chúng đi lại trên đường đông nườm nượp, người đụng người, mặc toàn những thứ quần áo rộng rãi, lả lướt. Họ trao đổi, mua bán vô cùng sầm uất, với nụ cười tươi trên môi hết sức vui vẻ, không chút gì rỏ ra khó chịu. Quân lính đồn trú mặc giáp tấm nhỏ, kết từ hàng chục miếng kim loại với nhau, đội mũ sắt, tay mang giáo dài, hông đeo gươm đứng canh ngoài cổng. Họ có nhiệm vụ bảo vệ thành Kim, bảo vệ nó khỏi mọi mối đe dọa.

 

Kim không chỉ là nơi ở của dân thường. Đây còn là chỗ Triệu Đà để một phần gia tộc mình cư ngụ, trong phủ Thành chủ và toàn bộ khu thành trong cùng. Cùng với đó là hơn vạn quân canh giữ, làm nhiệm vụ thủ thành và bảo vệ các yếu nhân. Quân được phân tán ra khắp nơi, nhưng chủ yếu là các vách và khu phủ trong cùng. Tướng thủ thành là thuộc hạ thân tín của Đà, từng cùng y chinh chiến khắp miền Lĩnh Nam, tới tận khi xâm lược Âu Lạc, nên được y giao cho việc trấn giữ chỗ này. “Phải bảo vệ bằng được người nhà ta”, mệnh lệnh giao cho chỉ nhiêu đó. Thân là tướng, hắn phải lĩnh chỉ.

 

Nhưng…

 

Từ trước cả khi bình định cái miền nam man ấy, Kim đã luôn thanh bình. Không chiến tranh, khói lửa gì suốt hơn nửa thập kỷ, quân lính cũng chẳng được va chạm, cọ xát nhiều. Dãy pháo đài đồn trú trên rặng núi, vì Thành chủ muốn dành tiền cho việc chi tiêu xa hoa hơn là bổ sung quân lực thủ hiểm, đã bị cắt giảm quân số xuống chỉ còn một đội trăm người mỗi nơi, có chỗ còn ít hơn, dù bình thường một khu như thế có thể cho hẳn một đội ngàn binh trú đóng.

 

Dân chúng cũng quen với hòa bình, không còn ai lo chuyện khói lửa can qua nữa. Bây giờ kêu họ chiến đấu, chắc chắn sẽ gây rối loạn. Những kẻ đã quên đi thời thất hùng, quên cuộc chinh phạt miền Bách Việt này, liệu có đột nhiên cầm mâu chiến đấu nổi không? Bình thường, điều ấy bất khả thi. Kỷ luật trong quân cũng dần lỏng lẻo. Quân sĩ mất tinh thần, hầu như cả ngày chè chén, trêu hoa ghẹo nguyệt chứ không còn chuyên tâm huấn luyện nữa.

 

Bê tha từ dưới lên trên, mà căn nguyên cũng ở tên Thành chủ béo ú, ham ăn ham chơi này. Lơ là phòng bị, dù tướng quân có đề cập bao lần, hắn cũng gạt phăng đi. Trong mắt gã vô dụng ấy, Kim là tòa thành không thể phá, thế núi vững chại che chở cho, và con sông chảy qua thung lũng, tạo thành hồ nước lớn lại tiếp tục bảo vệ nó. Chuyện bị công phá giống như mơ giữa ban ngày.

 

Nhưng đời ai đoán nổi chữ “ngờ”?

 

Dạo gần đây, trong thành rộ lên tin đồn về đạo quân “ma” hoành hành khắp vùng Âu Lạc cũ, càn quét qua miền đất phía Nam và đang tiến dần ra đây. Tuy nhiên, hỏi chuyện người từ miền ấy đến thì toàn nghe bảo vô căn cứ, cả người Hoa lẫn dân nam man cũ đều cho rằng tin tầm phào. Các quan cai trị miền dưới ấy cũng không có bất cứ báo cáo, thông tin nào về thứ gọi là “đội quân ma” này. Nhưng lời đồn lan truyền ngày một rộng hơn trong cộng đồng các sắc dân Âu Lạc, đến cả những nhà phú hộ cũng dần tin theo.

 

Theo lời đồn ấy, quân đội “ma” được lãnh đạo bởi người mặc áo lông ngỗng nhuốm đầy máu tươi, đầu đội mão cũ của Thục vương Phán, cưỡi ngựa trắng, đi đầu đoàn quân đóng khố, mặc giáp màu vỏ cây, nhìn đáng sợ vô cùng. Quân đi rầm rập, mặt đất cơ hồ rung chuyển, đến cả đồ đạc trong nhà cũng chao đảo. Binh đoàn ấy chỉ xuất hiện những ngày âm u, sương mù, bước chân não nề với tiếng than ai oán, không tiếc lời nguyền rủa Triệu Đà, liên tục kể tội Vũ Đế. Chưa có bất cứ trận giao tranh nào xảy ra giữa lực lượng này với quân nhà Triệu, nhưng theo phỏng đoán, có lẽ là hồn ma bóng quế của người Âu Lạc hiện về để hù dọa dân Hoa. Các thầy bùa, thầy phong thủy, bói các thứ đều được vời đến, nhưng vẫn không cách nào trừ được đoàn quân này. Họ vẫn tồn tại, đâu đó ngoài kia.

 

Những tin ấy, đối với người thành Kim chẳng khác gì chuyện tiếu lâm kể cho vui. Không ai thực sự nghiêm túc coi trọng điều ấy, dù nguồn gốc lời đồn trong thành lại đang được truy lùng. Đối với họ, chuyện ma Âu Lạc là cái gì đó tào lao, xa vời, không đáng để bận tâm. Nếu đó thực sự là dòng dõi Thục Phán phất cờ khởi nghĩa, có lẽ sẽ sợ chút đỉnh. Nhưng dẫu thế, lẽ nào quân lính nước này không diệt được? Đám tàn dư của một triều đại bị dẹp bỏ lẽ nào lại không thể một lần nữa nát bét dưới gót giày quân Nam Việt hùng mạnh?

 

Suy nghĩ ấy không phải vô căn cứ.

 

Ba năm trước, Vũ Đế đánh hạ thành Cổ Loa, kinh đô Âu lạc, sau nhiều năm trời chuẩn bị lực lượng và kế hoạch tỉ mỉ. Kế ly gián hoàn toàn thành công, với Trọng Thủy là nội gián, đã khiến An Dương Vương khi ấy hẵng còn ngủ quên trên chiến thắng tỏ ra khinh thường, không còn chú tâm vào chuyện phòng ngự nữa. Việc liên tục lấy lời đường mật dụ dỗ Mỵ Châu, công chúa nhà Thục, cũng giúp chuyện gián điệp diễn ra nhanh hơn. Thành công lớn nhất là làm rạn nứt mối quan hệ giữa họ Thục với Cao Lỗ, danh tướng đã chế ra thứ nỏ bắn liền lúc nhiều mũi tên, cũng đồng thời là tướng chỉ huy thủ thành, khiến ông này bỏ đi. Sức mạnh Cổ Loa suy giảm nhiều, khi vua quan chỉ lo ăn chơi, điềm nhiên đánh cờ, vẫn tin vào cái “hòa bình” giả tạo mà Đà đã dàn dựng.

 

Cuối cùng, chuyện gì tới cũng phải tới. Trọng Thủy lấy cớ về thăm cha đã nhanh chóng rời Cổ Loa, mang theo cả những bản vẽ bí mật về cấu tạo thành, thông tin tình báo và cả việc Thục vương đã sa đọa thế nào về cho vua cha. Đà được thế cả mừng, mang đại quân vượt sông Thiên Đức đánh vào. Âu Lạc thua to, vì bên kia đã nắm được mọi điểm mạnh yếu của Cổ Loa. Không còn Cao Lỗ, các tướng lĩnh khác dần mất đi ý chí chiến đấu, từ từ buông xuôi đầu hàng. Cổng thành bị phá, An Dương Vương phải đưa Mỵ Châu đi trốn. Quân chạy dài xuống phía Nam nhưng vẫn bị Đà truy đuổi.

 

Cuối cùng, tới bờ biển, Thục Phán lên thuyền định vượt biển vào trong tổ chức lại lực lượng thì bị giao long tấn công. Thuyền chìm, quân Đà trên bờ chứng kiến rõ cảnh hai con giao lớn, vảy sần vảy sùi há to mồm xé thịt tên vua đang bất lực chống cự. Phán vung kiếm lung tung, cố chém chết giao, chỉ để bị chúng ngoạm lấy, xé toạc cánh tay khỏi vai, kinh dị tới mức bài tên cũng xanh mặt. Biển xanh thoáng chốc nhuốm màu đỏ tươi, duy chỉ còn dạt vào tấm áo choàng rách nát của kẻ một thời cai trị miền đất này.

 

Chính Đà cũng chứng kiến cảnh đó, và không khỏi nở nụ cười tàn nhẫn khi thấy kẻ cựu thù phải chịu kết cục bi thảm tới thế. Y xuống ngựa, đến bên bến bái lạy, cảm ơn giao long đã giúp phanh thây kẻ địch, sau thu lấy tấm áo choàng rách vẫn còn dính máu và nước biển ướt sũng quay về Cổ Loa. Tuy nhiên, không ai thấy Mỵ Châu, ngoài mấy mảnh lông ngỗng rơi vãi lại. Binh sĩ nhà Triệu nghĩ bụng, có khi nào con ả ấy chết luôn rồi? Trọng Thủy ngoài mặt buồn lắm, ra vẻ khóc than người vợ hiền, xinh đẹp, yêu thương mình hết mực, nhưng tâm can thế nào chỉ hắn mới biết.

 

Về sau, quân Đà phía Nam bắt được giao long, mổ bụng ra thấy có áo lông ngỗng giống thứ Mỵ Châu từng mặc và vòng cổ móng rùa của Thục Phán. Tuy nhiên, không có xương cốt. Vòng móng rùa lại có một chiếc màu vàng rất lạ, nên lính không khỏi nghi ngờ. Có khi nào kẻ chết hôm ấy không phải Thục vương thật, mà chỉ là thế thân? Khi ấy có nhiều dân chài Âu Lạc đứng gần, bắt đầu nói vương thực đã được thần Kim Quy đưa đi, người bỏ mạng chỉ là thế thân. Tin tới tai Đà, Đà một mực gạt bỏ, nói chỉ là chuyện tầm phào. Không có xương có lẽ vì con này chỉ cắn xé như thế, lần ấy tận hai giao long cơ mà?

 

Nhưng nói tới thế, dân chúng vẫn đồn ầm lên, rằng vua bị truy đuổi là do công chúa rứt áo lông ngỗng thả xuống dẫn đường. Khi Kim Quy tới, thần mới cho vua biết công chúa chính là giặc. Vua cả giận chém chết con gái, máu nhỏ xuống biển đánh động giao long. Thần trao vua sừng tê bảy tấc, dẫn xuống Long Cung, còn người đã bỏ mạng trong bụng giao thực ra là kẻ thế mạng. Xác công chúa không có áo lông ngỗng, chắc đã bị Thục vương trong cơn giận vứt xuống biển. Trọng Thủy ôm xác vợ gào khóc lắm, về sau tâm tính chẳng bình thường nữa.

 

Chuyện như vậy, dân thành Kim ai lại chẳng biết? Bởi, họ là thân tín của Đà, lại còn là những kẻ đã phản bội Âu Lạc, đứng vào hàng ngũ nhà Triệu để rước giặc về đánh chính quê nhà mình. Nhiều kẻ là cựu thần Văn Lang, vẫn mang mối thù mất nước với Thục Phán, lại được Đà hứa thưởng hậu nên tin theo. Y làm thật, thưởng rất nhiều, cốt lấy lòng những kẻ này nhằm dễ bề cai trị dân nam man. Nguồn gốc tin đồn đến từ người xứ dưới, nên có khả năng họ đã mang nó nói với dân Hoa, từ ấy lan truyền. Dẫu thế, vẫn không vấn đề gì. Hồn ma vất vưởng làm gì được Chân mệnh Thiên tử?

 

Và đó chính là điều không ai nghĩ tới.

 

Tu u u u…! Tu u u u…! Tu u u u…!

 

– Cái gì vậy?

 

Từ ngoài thành, văng vẳng âm tù và gọi quân. Trước mọi sự ngỡ ngàng, bối rối của đám lính phòng thủ, âm tù và “tu u u… tu u u…” vang vọng, ngày một rõ và nhiều hơn. Không từ hướng cụ thể nào, chúng ầm ầm khắp cả rặng núi xung quanh, như thể bốn bề vọng lại. Rồi từ từ, tiếng trống đồng đánh tùng tùng dội lại, khiến ngay cả những kẻ bình thản nhất cũng phải hốt hoảnh. Tên Thành chủ đánh rơi cả cốc rượu trên tay, vội chạy ra ngoài xem. Thì ngay lúc đó, điều kinh hãi nhất đời hắn xảy đến.

 

Cả hai cánh cung núi đá, khắp nơi đỏ rực màu quân kỳ. Lá cờ đỏ thẫm màu máu, với hình thoi viền vàng và chữ “Thục” lớn sắc đen thêu bên trong, theo ký tự của người Âu Lạc. Dãy núi không quá xa, nên từ đây nhìn, tên Thành chủ la làng như ai cắt cổ, tá hỏa khi thấy cả rừng những mũi giáo đang đứng san sát nhau! Thấy mờ mờ thì vẫn là thấy, cùng với quân kỳ và tù và, trống đồng thanh viện dồn dập.

 

– Lửa hiệu! Đốt lửa hiệu! Mau đánh chuông báo nữa, nhanh! Chúng ta đang bị tấn công!

 

Tướng quân gào lên. Mấy binh sĩ phụ trách nhanh chóng ném cả vạc dầu và cây đước vô đống lửa trên tòa tháp cao. Lửa hiệu ấy dùng báo động toàn khu vực, trong khi chiếc chuông đồng lớn nằm bên dưới tháp lại để cảnh báo dân chúng. Từng tiếng chuông ngân trầm trầm, vọng ra khắp vùng đất khiến người dân hoảng sợ tột độ. Nông dân vứt cày, nhanh chóng về nhà đưa gia đình trốn vào trong thành. Quân lính chờ nông dân phía ngoài chạy vô hết rồi nhanh chóng đóng sầm cổng lại, chốt ngang bằng mấy thanh gỗ to tướng. Trên các tháp canh khác, lửa hiệu cũng nổi lên, cùng với đó là tiếng trống dồn dập, khẩn trương, báo hiệu mọi người mau tìm nơi ẩn nấp.

 

Chính khi khói vừa bốc, trên các pháo đài, cờ Nam Việt bị hạ xuống. Thay vào đó là cờ Thục!

 

Thành Kim đang bị tấn công!

 

Quay vào trong gian phòng xa hoa, với sập gỗ gụ, tủ dát vàng, bàn gỗ lim để đầy những thứ chén bát ngọc ngà quý giá, gã Thành chủ to béo, mặt chảy xệ vì mỡ, râu ria xồm xoàm vẫn còn chưa thôi sợ. Đã chứng kiến tất cả, y không thể không sợ. Tướng người béo u như heo, lại đang hoảng nên mồ hôi hắn túa ra ướt cả áo. Trong phòng, đám gái đẹp hắn mang về vẫn còn nằm đó, gần như trần truồng, hướng ánh nhìn hoang mang về phía chủ nhân. Hắn gọi lính vào đưa hết tụi đàn bà đi.

 

Còn lại một mình, tên này rút cây kiếm trên trên bao ở vách tường. Kiếm được chính Vũ Đế, gọi mình bằng chú họ, ban cho, coi như thay mặt vua cai trị vùng này. Lưỡi dày, dài cỡ ba tấc, không sáng lóa mà lại có màu đồng xanh lá rất đẹp. Hắn ngắm nghía, vung vung mấy cái, rồi lấy tay trái quẹt mồ hôi trán. Đoạn, gã cho gọi tướng thủ thành. Vị tướng vừa vào, tên này đã hỏi:

 

– Tại sao chúng lại xuất hiện ở đây? Tại sao… cái đám man di đó, đáng ra phải phanh thây, chặt đầu hết rồi, lại ở đây?

– Mạt tướng không rõ, thưa ngài.

– Chết tiệt! Vậy ngươi định làm gì?

 

Cúi đầu, tướng quân đáp, tỏ vẻ lo lắng lắm. Đoạn, y ngẩng lên. Một ông già râu tóc bạc phơ, mặt đầy các nếp nhăn, nhưng mắt vẫn sáng quắc như chim ưng. Cái mũi khoằm khoằm càng khiến hắn giống chim hơn. Tướng quân mặc giáp kim loại đen, có tấm che trước ngực, giáp vai rộng và áo choàng phủ sau, cùng chiếc nón gắn từ mấy mảnh kim loại, trên đỉnh có cái gai nhọn. Gần như không có chỗ hở nào trên bộ chiến phục ấy. Hông lão giắt thanh kiếm dài tầm ba thước, phần đốc cỡ vừa lòng bàn tay được trang trí tinh xảo với ngọc trai và lam thạch. Nhìn có vẻ thứ quý giá lắm, hẳn được người nào có chức quyền ban cho.

 

Nhìn Thành chủ, lão tướng cương quyết nói:

 

– Nhưng mạt tướng sẽ không cho phép chúng đặt chân vào tòa thành này!

– Đi đi! – Thành chủ ra lệnh – Đi và giết hết chúng cho ta!

 

Không chần chừ, tướng chỉ huy nhanh chóng ra lệnh cho quân trong thành chỉnh đốn hàng ngũ, tập trung lại. Quân Nam Việt vẫn theo biên chế nhà Tần, tức lấy đội năm người làm cơ sở, nên việc thiết lập đội hình thực tế nằm ở các tiểu đội này. Chuyện cơ động cũng nhanh hơn. Lính từ phía dưới chạy nhanh lên các cầu thang, đứng đầy trên tường thành. Người nào người nấy mặc giáp tấm nhỏ, bên trong bận đồ vải dày, để đầu trần.

 

Lính hàng đầu tiên cầm theo những tấm khiên gỗ lớn bọc đồng mặt ngoài, cao tới ngang cơ hoành để bảo vệ khỏi tên bắn từ dưới. Phía sau là quân cầm cung, nỏ, mỗi người đều có một bao đựng hàng chục mũi tên. Những lực lượng này bình thường đứng kín tường, nhưng như đã huấn luyện từ lâu, khi giao tranh thực sự sẽ dạt khỏi chỗ trống, nấp vào các khối “răng cưa” cao kia để tránh tên bắn trực diện, chỉ lúc xoay người ra bắn xuống mới rời chỗ ấy.

 

Về lý thuyết là vậy.

 

Còn thực tế…

 

– Mưa tên!

 

Tiếng gào thất thanh của gã lính gác tháp canh vừa vang lên, hàng ngàn hàng vạn mũi tên bit đồng đã trút như mưa xuống vách Đông thành Kim. Xây vừa đứng bốn hướng, nên việc xác định rất dễ. Quân “ma’ – vẫn chưa biết có thật là Âu Lạc không – từ sườn bắn xuống, tên bay cong vòng lên đỉnh đầu rồi bổ nhào từng đột, từng đợt. Tên bay che mất cả trời, như trận bão hung tàn, găm phập phập vào giáp, vào da thịt đám lính vòng ngoài vẫn còn chưa kịp giơ khiên lên. Vách núi nơi tên bay đến cách thành không quá xa, chỉ hơn nửa lý, lại ở chỗ cao hơn nên địch bắn rất tiện.

 

Vừa hay gió Đông Bắc thổi, tên lại bắn xiên xiên chứ không trực diện vào tường, nên đi xa hơn nhiều. Trong khi đó, đứng trên tường, nấp mình sau những khối răng cưa cao quá đầu, cung thủ thành Kim phải chật vật lắm mới lú đầu ra bắn trả được. Ngược hướng gió, lại bị ánh dương rọi lóa mắt, việc canh góc xả tên cực kỳ khó khăn. Tên bay xa, vượt qua hàng trượng bề dày tường thành, đổ dồn xuống khu dân cư bên dưới. Nhiều người trúng tên, kêu khóc thảm thiết vô cùng. Máu đỏ chảy dài, thành từng vệt nhỏ xuống đất, lẫn với nền thành thứ màu nâu nâu xỉn xỉn. Xác lính ngã từ trên xuống đánh bịch, máu me vương vãi, lắm kẻ mắt mở trừng trừng, người cắm chi chít tên.

 

Rời phủ Thành chủ, tướng quân nhanh chóng lên đài chỉ huy ở tường trung tâm, nơi các tham mưu đã chờ sẵn. Trên chiếc bàn gỗ dài, tấm bản đồ thành Kim và khu vực lân cận được trải rộng ra. Vì tòa thành này có một mặt giáp núi, nên toàn bộ các mặt khác đều không xa núi Kim lắm. Theo tình hình này, một tướng lên tiếng, khả năng tệ nhất là Kim đã bị bao vây mọi phía. Kẻ địch đã chiếm được các pháo đài, từ đó cắt đứt con đường liên lạc của thành Kim với phía bên ngoài. Lòng chảo tưởng rằng sẽ giúp nó phòng ngự, bây giờ lại trở thành chiếc lồng nhốt chặt mấy vạn bá tánh bên trong.

 

Cuộc chiến tiếp diễn. Điều động quân từ các doanh trại trong thành lên tường Đông, quân Nam Việt chật vật chống đỡ, song không phải không thể làm gì. Sau giai đoạn đầu bất ngờ, các Bách trưởng – người chỉ huy đơn vị một trăm lính, ra lệnh bộ binh giơ khiên lên đỡ mưa tên. Những tấm khiên gỗ dài dài, cong cong bọc kim loại bên ngoài nhanh chóng dính đầy tên Âu Lạc, tiếng phập phập và áp lực ấn xuống khiến lắm tên toát mồ hôi hột, lo sợ không biết trụ nổi không. Họ đứng che như vậy cho cung thủ bắn trả, nhưng do gió Đông Bắc, tên trong thành bay ngắn hơn nhiều. Thành thử ra, thiệt hại cho phía kia không nhiều, khi họ có điểm cao và gió hỗ trợ.

 

Trong lúc đó, phía Bắc, ngay sau lưng thành, diễn ra chuyện không ai ngờ.

 

Đứng ở vách núi ngay phía sau thành, trên tay là thanh gươm thấm đẫm máu vẫn còn nhỏ từng giọt tong tỏng, cùng đầu của tên tù binh, thiếu nữ nét mặt u sầu hướng ánh nhìn đầy căm hận, như muốn xẻ thịt lột da, nhai gan uống máu xuống phủ Thành chủ. Hình xăm giao long cùng sóng nước trên bắp tay trái bóng nhẫy mồ hôi, trong khi chiếc giáp đồng mặc trước ngực, che qua cái yếm đã đỏ thẫm màu máu, dính vô số giọt li ti. Mái tóc đen dài phất phơ trong gió, lòa xòa trước mặt như bóng ma, cùng đôi môi đã có phần nhợt nhạt khiến nàng ta trông không khác gì oán linh.

 

Bên cạnh nàng, vị Lạc tướng tay cầm giáo dài, hông giắt rìu chiến siết chặt chiếc cán gỗ, răng nghiến ken két khi trông xuống. Chiến bào trên người ố màu theo thời gian, vẫn không che đi được cơ bắp cuồn cuộn, vết xăm chim đen mỏ dài trên hai vai, cùng sự căm hận ngùn ngụt bốc như lửa dữ. Bộ râu bạc trắng phủ kín cằm, ria mép mọc dài từ phía trên môi phủ xuống miệng, cùng mái đầu nom như mây trời cũng không khiến vẻ mặt đầy các nếp nhân và sẹo ấy bớt đáng sợ hơn. Đôi mắt đã hóa hòn lửa nóng, chỉ muốn xẻ thịt lột da, giết hết tất cả những tên khốn bên dưới.

 

Năm ấy, vì tên khốn họ Triệu, Thục vương đã không tin tưởng ông.

 

Năm ấy, vì tên Triệu chết tiệt ấy, cô đã cả tin cho hắn biết.

 

Hai người.

 

Một số phận.

 

Tên họ Triệu!

 

Cơn hận này không bao giờ nguôi!

 

Với cô, đó là nỗi căm hận mất nước, mất nhà, mất cả cha mẹ, họ hàng, thuộc hạ. Toàn bộ lầu son gác tía, đài cao nhung lụa, những thú vui thường ngày, tất cả đều mất hết chỉ vì tên chồng đểu cáng. Hắn đã lừa tất cả, những lời nói ngon ngọt, những câu thề thốt yêu đương… Cô muốn giết hắn, muốn hắn phải chịu như gia tộc cô từng chịu! Nhưng tên đó chết rồi, và… càng muốn giết hắn, cô càng hận mình hơn. Hận bản thân quá ngu si, tin yêu mù quáng thằng khốn ấy, dù đã có lần tướng quân can ngăn. Hận chính mình vì chỉ thấy mỗi chữ “tình”, đã ngu dốt đem bản đồ Cổ Loa, đem bí mật về nỏ liên châu nói cho hắn! Hận vì đã để hắn tiêm nhiễm vào đầu Thục vương những thứ xằng bậy, làm triều đình lục đục, lòng dân ly tán! Lỗi hắn có, nhưng chính vẫn ở cô, ở cái thời quá vô tư và ngây thơ, tin tưởng mù quáng!

 

Còn ông, ông hận mình đã không quyết can gián vua tới cùng, lại đành lòng rời đi, chỉ vì những lời gièm pha của thằng lỏi Trung Hoa đó. Đội quân Âu Lạc hùng mạnh ông dựng lên, tòa thành chín tầng xoắn ốc cao vời vợi, tất cả bỏ lại phía sau, chấp nhận về quê cày cấy như một lão nông tầm thường. Để rồi sao? Cổ Loa thất thủ, Thục vương bỏ mạng ngoài đại dương!

 

Quân Triệu đi tới đâu cướp của, hãm hiếp, giết chóc tới đó. Suốt cả dọc từ sông Thiên Đức xuống tới tận cùng phương Nam không nơi nào chúng không chém giết, làm cho máu chảy đầu rơi, dân chúng oán thán. Những cánh đồng quê chảy máu, mũi giáo hung tàn đâm nát trời xanh, từng đống từng đống xác người bị dồn về, rồi mấy con khỉ núi ấy châm lửa đốt! Chúng nướng dân ta trên ngọn lửa hung tàn, cắt cổ những bà mẹ mang thai, moi đứa bé còn chưa chào đời ra ném vào lửa! Thấy cảnh như thế, tim ông tan nát. Sao lại ra tới nông nỗi này chứ? Nếu không nhờ gặp người, có lẽ lão già này mãi mãi không biết được.

 

Lão chiến binh đã gần đất xa trời, kẻ bỏ lại trách nhiệm đáng ra phải gánh vác, Lạc tướng Cao Lỗ…

 

Và người, tội đồ thiên cổ mang tiếng đưa giặc vào thành, nhưng lại đau đớn hơn bất kỳ ai, công chúa Mỵ Châu!

 

Không bao giờ, không bao giờ họ có thể quên nổi cảnh tượng ngày ấy, khi hai ông cháu vô tình gặp nhau tại cổng Nam thành Cổ Loa. Trước cổng cũ, một vòm gỗ cong cong hình cánh cung được cựng nên, trên đó ghim đầu của tất cả mọi gia quyến, thân thích hoàng tộc Thục vương, của cả những Lạc hầu, Lạc tướng đã quyết chiến đấu tới hơi thở cuối cùng và dòng tộc họ. Tất thảy hàng ngàn chiếc thủ cấp, bị đánh đập đến biến dạng, xiên nham xiên nhở trên những cọc nhọn cắm lên ấy.

 

Mùi xú uế, phân hủy hôi thối bốc nồng nặc, ruồi nhặng và quạ bâu và rúc rỉa mấy cái đầu không còn chút sức sống ấy. Mắt họ vẫn mở trừng trừng, trợn ngược lên, môi miệng xỉn màu với dòng máu khô màu nâu nâu chảy trên cọc. Quạ rỉa từng mảng da, rách toạc lộ cả hộp sọ, rơi nhãn cầu. Xác chết, tất cả đều bị phanh thây, ném dồn một chỗ rồi giặc châm lửa đốt, mấy ngày vẫn còn âm ỉ. Tàn nhẫn đến cùng cực, khi đến đứa bé con chúng cũng giết chết.

 

Hai con người, một mối thù!

 

Sau lưng họ, pháo đài canh gác của quân Nam Việt đã bị chiếm hoàn toàn. Khi đánh vào đây, lính Âu Lạc hoàn toàn bất ngờ khi chỉ có một nhúm vài chục tên lính trang bị nghèo nàn đứng thủ, trong khi tướng Lỗ đã dự tính địch sẽ phải có ít nhất cũng vài trăm tên. Chúng chống cự rất yếu ớt, nhanh chóng bị tiêu diệt không sót kẻ nào. Mấy cái đầu bị cắt rời ghim trên mũi giáo, cắm đầy sườn núi, còn trang bị quân ta tịch thu cả. Thu được cũng mấy mươi bộ cung tên, hàng trăm mũi, cả đống củi cùng rất nhiều dầu. Củi được chất sẵn trên đỉnh, nên chắc hẳn đây là hệ thống lửa báo hiệu của địch. Quân ta đã vô hiệu hóa hết, cũng hơn ba mươi pháo đài thế này, không thì với vị trí cao ráo trên đây, chúng nổi lửa phát thì có mà chết.

 

Lính Âu Lạc dưới đóng khố, chân đi dép cỏ, mặc áo giáp làm từ vỏ cây mây đứng kín phía trên. Tại mặt tường Đông, tức bên tay trái Mỵ Châu bây giờ, là khoảng ba ngàn lính đang toàn lực bắn cung, cùng khoảng sáu trăm người khác làm nhiệm vụ đánh trống thổi tù và cho hoành tráng, phất cờ qua lại, làm địch tưởng quân ta đông lắm. Thực sự cô đã dồn ba phần tư số cung thủ có được sang bên đấy, số lượng không nhỏ đối với một đội tàn quân, nhưng vẫn là chưa đủ để thực sự làm địch hoảng loạn.

 

Phía xa, để tạo “nghi binh”, họ dựng lính rơm cầm gậy gỗ vót nhọn, ra vẻ như lính tráng đông lắm. Dĩ nhiên, chỉ là trò lừa người, và cũng có chút may mắn bởi hôm nay núi lắm sương, từ dưới nhìn khó thấy, còn trên bắn xuống lại rất dễ dàng. Gió Đông Bắc là điều đã dự tính trước, tấn công vào lúc gió mùa, tên ta được tiếp sức nhiều, nhưng cũng sẽ nhanh mất đi lớp sương che. Vì vậy, phải hành động ngay khi vẫn còn cơ hội.

 

Nhờ thế đất, thành Kim không thể quan sát được dốc núi bên này, nhưng người từ trên nhìn xuống lại thấy rõ mồn một khi thành trung tâm. Lấy núi làm tường có lợi mà cũng hại: Lợi được ngọn núi che chở, đỡ được công sức xây dựng, mà hại cũng do núi. Khi địch đã chiếm được điểm cao rồi, việc đổ quân xuống cực kỳ dễ dàng. Thành Kim lại không xây các tháp canh ngay sát lưng dốc đá, chỉ đơn giản là tường đâm thẳng vô vách, vô tình tạo thành cái “đà” cực tốt cho kỵ binh phi thẳng lên cái bờ đất lát gạch rộng bốn trượng ấy. Và, Cao Lỗ thầm “cảm ơn” tên óc nhũn nào xây cái lầu chỉ huy phòng ngự ở chỗ khiến toàn bộ núi Kim trở thành điểm mù của phủ Thành chủ lẫn lầu chỉ huy phòng ngự, mà lực lượng trên này vẫn chưa bị lộ.

 

Khoanh tay lại, vị tướng kỳ cựu đã chinh chiến từ tận khi tiêu diệt Văn Lang nói:

 

– Tình báo chúng ta đã nói địch trong thành có chỉ tầm một vạn quân thực sự có thể chiến đấu. Công chúa, chúng sẽ không thể chịu được một cuộc giáp công trên hai mặt! Và chúng ta có nhiều hơn vậy! Tới lúc rồi!

– Ừm, tới lúc rồi.

 

Gằn giọng như thú dữ gầm gừ, đầy vẻ thù hận, đôi mắt nâu vốn long lanh, ngây thơ giờ đây đỏ long lên sòng sọc bởi thù hận, Mỵ Châu leo lên yên ngựa, quay về sau. Giơ tay, cô ra lệnh cho quân giương cờ hiệu, thổi tù và. Ngay tức khắc, chiến kỳ Âu Lạc, màu đỏ tươi với bốn vòng hình thoi viền vàng lồng nhau, phất cao lên. Quân tại đây chỉ có một ngàn cung thủ, được huấn luyện trong mấy năm qua bởi tướng Lỗ, và khoảnh hai trăm kỵ binh đã chạy thoát được. Thêm vào đó là năm, sáu trăm quân thoát được của những Lạc hầu, Lạc tướng và thủ lĩnh miền núi khác, tề tựu lại dưới lá cờ tưởng chừng đã mất.

 

Thúc ngựa tới trước đoàn kỵ mã, nơi mỗi người lính đều có giáp đồng, mũ trụ, mặc quần dài, tay mang ngọn giáo chĩa tầm trượng, Mỵ Châu giơ cao thanh gươm. Đoạn, cô hét to, bằng tất cả những gì còn lại:

 

– Nhớ lại đi, mối hận ba năm trước, khi lũ cẩu tặc này đánh vào, chúng đã làm gì! Chúng đã làm gì quê hương ta, làm gì những người dân vô tội, những người ta yêu thương! Lũ chúng nó, nợ máu phải trả bằng máu! Và chúng ta tới để đòi lại! Sẵn sàng, sẵn sàng ngay, những chiến binh Âu Lạc đáng tự hào! Giáo giặc phải gãy, giáp giặc phải nát! Ngày đỏ thẫm! Ngày đẫm máu! Dưới ánh Mặt trời này!

– Ô ô ô! Ô ô ô!

 

Trước lời nói như sấm động trời Bắc ấy, không chỉ kỵ binh mà cả lính bộ và cung thủ đều đồng loạt gào lên. Làm sao mà họ quên được những ký ức kinh khủng đó, khi mảnh đất yêu thương này bị giày xéo, người thân, bạn bè bị giết hại dã man? Làm sao những người ở đây quên được cảnh Triệu Đà bắt dân chúng phải đạp lên cờ và áo choàng của Thục vương, trong khi tên khốn ấy cười hả hê cùng thằng con trai đểu giả? Không, không bao giờ, không bao giờ quên, không bao giờ tha thứ! Nợ máu năm xưa, nay phải trả bằng máu!

 

Tất thảy kỵ binh, trăm người như một, giơ mũi giáo thẳng ra trước. Thúc chiến mã đen như màn đêm phi qua bên dưới, Mỵ Châu giơ cao kiếm lệnh, gõ sống vào phần cán gỗ. Lạch cạch lạch cạch, tiếng kim loại va vào gỗ tốt nghe thật lạ, nhưng cũng thật oai hùng. Vừa phi, Mỵ Châu vừa hét to, thổi bùng lên ngọn lửa bên trong mọi người chiến sĩ:

 

– Chiến đấu! Chiến đấu! Chiến đấu để báo thù! Và để cho chúng biết Âu Lạc này sẽ không bao giờ chịu khuất phục!

– Ô ô ô ô! Ô ô ô ô!

– Giết!

 

Quay ngựa lên đầu, Mỵ Châu thét to, đến muốn xé toạc cả cái “thiên hạ” của lũ giặc cỏ phương Bắc.

 

– Giết!

 

Và liền sau đó, hàng ngàn quân đồng loạt hét theo, khiến ngay cả núi Kim cũng phải rúng động.

 

– Giết!

– Giết!

– Giết!

– Giết!

 

Tiếng hét xung trận liên tục lặp lại. Và rồi, hít một hơi thật sâu, Mỵ Châu quất yên cương, phi ngựa thẳng về vách núi thoai thoải. Toàn quân cũng di chuyển theo ngay sau cô. Chĩa kiếm về trước, mệnh lệnh của vương thật rõ ràng:

 

– Tiến lên, quân Âu Lạc!

 

Tu u u u…! Tu u u u…!

 

Tù và lại thổi. Nhưng lần này, cùng với nó không phải âm trống đồng, mà là tiếng rầm rập, rầm rập rung chuyển đất trời của gần ngàn vó ngựa dập liên hồi xuống vách núi, khiến đá sỏi nhỏ nhỏ bật tung, lăn thẳng xuống dưới. Hai trăm quân kỵ chia làm hai nhánh, một hướng do chính Mỵ Châu chỉ huy, đánh xuống vách thành hướng Tây. Nhánh còn lại, do một vị chỉ huy khác lãnh đạo, đánh vô mặt Đông, đồng loạt công kích và sẽ gặp tại lầu chỉ đạo phòng ngự phía trước thành.

 

Cùng với đó, một ngàn cung thủ dưới quyền tướng Cao Lỗ cũng cơ động lên trước, châm lửa vào đầu mũi tên rồi bắn xối xả thẳng xuống phủ Thành chủ. Bộ binh ở lại vừa làm nhiệm vụ cảnh giới, vừa bảo vệ cung binh. Tên bay vun vút, mồi lửa đỏ rực cháy lách tách cắm phập vào rường cột gỗ quý, vào mái ngói đỏ au, nhanh chóng lan rộng, bao phủ cả một khu rộng lớn. Cây cối trong vườn dính lửa cũng ngùn ngụt cháy theo, khói đen bốc đến tận trời. Mà không chỉ bắn đốt thành, lính cung còn bắn xuống phủ đầu quân địch đang thủ trên tường, dọn đường trước cho kỵ mã xông qua.

 

Đều là quân trang bị nhẹ, ngựa trần, nên họ cần đồng đội bắn áp chế để dễ bề đánh trên đoạn đường hẹp chỉ có bốn trượng bề ngang. Thật không dễ chút nào khi phải vừa chống kỵ binh xông tới, vừa giơ khiên đỡ tên, điều ấy tướng cao Lỗ biết rất rõ. Kế hoạch này chính do ông bày cho, để đảm bảo tạo thành khoảng trống thích hợp để quân ta tràn xuống. Đôi kỵ binh xếp đội hình mũi tên, Mỵ Châu dẫn đầu, lao thẳng hướng tường thành. Họ đánh bất ngờ, trong khi quân lực đang dồn qua phía Đông để chống lính Âu Lạc mặt ấy, khiến những kẻ trong phủ trông ra và cả quân sĩ ở lại đều không dám tin vào mắt mình nữa.

 

Cuối cùng, cánh quân chủ lực của Âu Lạc, đóng tại phía Tây Nam, hành động.

 

Ngay khi nhìn thấy cờ hiệu phất trên núi Kim, đạo quân này liền nổi trống đồng, phất cờ hiệu đánh ra. Họ chính là thân quân của Cao Lỗ, sau khi chủ soái rời đi cũng đã biệt tăm, và không tham gia trận chiến tại thành Cổ Loa. Không ai hiểu vì sao những người này lại “bốc hơi” được, nhưng sự thật họ biến mất đã giúp giữ lại một trong những đạo quân tinh nhuệ bậc nhất của Âu Lạc khỏi sự diệt vong. Ba năm qua, ẩn mình chờ thời ở vùng núi non Tây Bắc, cùng các động chủ người miền ấy, họ không ngừng luyện tập, tích trữ lương thảo, chế tạo vũ khí, thu thêm quân đội, chỉ để chờ ngày có thể quay về báo thù.

 

Ngay lập tức, từ dốc thoai thoải phía Tây Nam, đoàn quân hùng hậu, đông đến hơn bốn ngàn lính đổ ào xuống, đạp nát những cánh đồng vừa gieo mạ, chạy băng băng qua khỏi những ngôi nhà không bóng người, tập trung ngay phía trước tường thành. Hầu như tất cả lính đều mang khiên với giáo, che cho cung thủ đứng bắn lên. Cách tường thành khoảng non chục trượng, hàng trăm múi tên bay lên vèo vèo, che khuất trời xanh rồi đổ ào xuống, trước mọi sự bất ngờ của quân thành Kim.

 

Họ chạy quá nhanh, đến nỗi lính tráng trong thành – những kẻ đã quen với hòa bình, gần quên toàn bộ chuyện binh đao – không kịp trở tay. Tên bắn nhiều, bắn rát, rào rào đổ xuống cắm đầy thây mấy tên ngu dốt xui xẻo chưa kịp trốn. Xác chúng ngã ngào ra sau, lắm kẻ rơi đánh bịch xuống đường đất bên dưới. Địch dần trở nên hỗn loạn. Đám lính trẻ chưa từng có kinh nghiệm trận mạc la khóc, dính tên khắp giáp, làm đội hình hàng ngũ hỗn loạn cực kỳ. Quân tinh nhuệ hầu hết điều cả sang thành Đông để chống lại “một cuộc tấn công tiềm năng” của quân địch, chúng nghĩ quân Âu Lạc bắn tên tới tấp hướng đó nên cũng sẽ đánh vô cửa Đông. Nhưng không ngờ, cửa Nam mới là nơi bị đánh chính! Và dĩ nhiên, vách Bắc đã bị nhóm cung thủ của Cao Lỗ làm chủ hoàn toàn.

 

– Cái gì?

 

Nghe báo thế, viên tướng chỉ huy hốt hoảng đến đánh rơi cả thanh kiếm trên tay. Tại lầu phòng ngự, hắn và các tham mưu vẫn đang cho chuyển quân sang thành Đông, bổ sung phòng ngự mà không ngờ rằng, kẻ địch lại dùng kế “giương Đông kích Tây”, lấy cung thủ làm mồi nhử để thu hút sự chú ý, trong khi đại quân ập vào từ hai mặt. Phủ Thành chủ bị tập kích, phóng hỏa chính là điều họ không ngờ tới nhất.

 

Hai cánh cung bị chiếm còn hiểu được, dù dốc núi bên ngoài dựng gần đứng thẳng nhưng không phải không thể leo, tuy nhiên bản thân núi Kim lại khác. Mặt ngoài ngọn núi có vô số bãi đá lởm chởm, chẳng khác gì rừng cọc tự nhiên, lại chẳng có đường đi, vậy làm thế nào mà chúng lại leo lên đó được chứ? Chuyện này không lý nào! Không lý nào… chẳng lẽ… Lão tướng toát mồ hôi hột, mặt mày xây xẩm. Ông lẩm bẩm, có khi nào địch vốn đã “quét sạch” đôi bên và hội quân lại trên núi từ trước? Nếu vậy, thành Kim chính xác đã thành cá nằm trên thớt, không, là cá trong lòng chảo mới đúng! Thung lũng này chính là lòng chảo khổng lồ mà thành Kim lại nằm ngay vùng trũng, nếu bị địch bao vây các mặt, chỉ còn nước…

 

Chết.

 

– Chết tiệt!

 

Đập tay xuống bản đồ, lão tướng gầm lên như hổ dữ. Đoạn, hắn quay ngoắt sang các thuộc hạ, ra lệnh như quát:

 

– Mắc mưu rồi! Điều bớt năm trăm quân từ phía Đông về thành Nam, tăng cường hỗ trợ khu dưới đó! Chuyển lính dự bị ở tuyến giữa ra vòng thành ngoài, ngay lập tức! Lấy nỏ máy! Tập trung bắn phủ đầu lũ man rợ đó cho ta! Ngươi! – Gã chỉ một vị tướng – Đem sáu trăm quân ra phía sau, hộ giá Thành chủ! Kẻ địch có thể tập kích bất ngờ, không dừng lại ở chuyện phóng hỏa đâu! Nhanh lên! Chỉnh đốn hàng ngũ! Toàn thành chuẩn bị tử chiến!

– Rõ!

 

Quân lệnh như sơn, quả không quá lời. Quân lính thành Kim, tuy đa số đều thuộc dạng “mới toanh”, nhưng các chỉ huy lại đều là cựu binh từ thời Thủy Hoàng Đế thống nhất Trung Hoa, bành trướng vượt qua Trường Giang, đánh xuống Bách Việt nên thực lực không hề tầm thường. Nếu tướng chỉ biết diễu võ giương oai ngoài tuyến đầu thì cũng không đáng sợ mấy, nguy hiểm nhất là những kẻ vừa có võ, vừa biết xài cái đầu như mấy tên ở đây. Tuy lâm vào thế bất lợi, các chỉ huy cựu Tần nhanh chóng truyền lệnh xuống các Thiên trưởng, sĩ quan chỉ huy ngàn người, từ đó lại lệnh xuống những Bách trưởng, rồi Thập trưởng, cuối cùng là Ngũ trưởng, người lính giàu kinh nghiệm nhất trong đội tác chiến năm thành viên.

 

Quân lính nhanh chóng cơ động, vừa nghe lệnh trên chuyển lực lượng từ Đông xuống Nam, vừa theo tường thành mang quân đi về phía cầu thang dẫn xuống khu đất bên dưới, vào phủ Thành chủ. Nhưng ngay lúc đó, chúng gặp phải thứ tai ương lớn nhất đời mình.

 

Một toán kỵ binh hùng hậu, hung tàn phi nước đại từ vách núi xuống, đổ bộ ngay lên tường thành, thừa thế đẩy thẳng không chừa tên lính nào. Mũi giáo đồng đâm xuyên ngọt xớt mấy bộ giáp yếu ớt của quân thành Kim, lũ lính chưa kịp lập đội hình đã bị đâm tan nát. Ngựa chạy thẳng tới, người cưỡi bên trên giữ chặt giáo, đã nghiền nát không biết bao nhiêu thây xác Nam Việt. Rất nhiều, rất nhiều kẻ bị đâm xuyên thân, máu đỏ òng ọc phun ra như suối. Xác người bị đẩy từ trên thành xuống, cùng những tên vô phước tuy cố né mà hụt đà, lộn đầu té gãy cổ nằm chết mà mắt còn mở trừng trừng.

 

Cả đoạn thành dài từ sườn núi Kim vào tới gần ngã rẽ sang hướng Nam nhuộm màu máu tươi, cái thứ chất lỏng tang tanh dính dính ấy vương vãi trên mặt tường, dưới đường đi, đổ thành dòng chảy vằn vện xuống bức vách ốp gạch, thấm đẫm cả khoảng đất phía dưới. Tử thi bị ném không thương tiếc, tay, chân, đầu bị chém vụn hết văng lên lại rớt như mưa, như thể nhà nào làm hàng thịt mà ném bỏ giò heo vậy.

 

Dẫn đầu đội quân ấy là người thiếu nữ vẻ mặt sầu bi, nhưng đôi hốc mắt lại cháy rực lên ngọn lửa căm hờn. Răng nghiến chặt, tay nắm ghì lấy chuôi kiếm, nàng vung tới đâu địch chết tới đó, thân xác con người bị cắt vụn như lấy gươm chém xoài. Như từ cõi chết trở về, kẻ ấy tung hoành trên đoạn thành dài, dẫn đầu đội quân đã không còn gì để mất thảm sát đến kẻ cuối cùng. Vài tên Thập trưởng còn tỉnh táo ra lệnh chi lính tạo thành tường giáo, đội hình phương trận lính đứng sát nhau, chĩa giáo ra trước, cố gắng chống lại kỵ binh. Nhưng loại giáo tầm ngắn của quân Nam Việt không tới được giáo dài Âu Lạc, chúng bị đâm chết từ trước khi ngựa bên kia kịp lao vào. Cung thủ đã chuyển đi hết, lại thêm trên núi bắn xuống, khiến tình hình bi đát vô cùng.

 

Cùng lúc đó…

 

Rầm!

 

Rầm!

 

Rầm!

 

Âu Lạc công thành!

 

Không biết từ khi nào, quân Âu Lạc đã chuẩn bị được ba chiếc cọc gỗ lớn, đầu vót nhọn được bọc đồng. Lấy loại cây thân to một người ôm còn khó, bào ngẵn nhụi xung quanh, lại buộc dây thừng quanh vòng thân, cứ mười người lính khỏe mạnh lại mang một thanh ấy tông thật mạnh vào cổng thành. Cổng thành vốn rất dày, với hai vỏ gỗ ngoài và một lớp đồng nằm chính giữa, bên ngoài bọc viền sắt gia cố thêm, lại đang có vẻ như sắp vỡ nát. Ba chiếc trụ công thành, tên gọi của thứ này, thay phiên nhau tông liên tiếp vào khe hep chính giữa hai cánh, mặc cho quân lính bên trên tuyệt vọng xả tên xuống.

 

Đều vô ích. Lính mang cọc chỉ cầm thứ đó bằng một tay – dây thừng được buộc thành vòng vừa vặn để xách như cái quai – vừa giơ khiên lớn lên đỡ tên. Họ không cần chiến đấu gì nhiều, nhưng người nào người nấy thân hình lực lưỡng, cơ bắp cuồn cuộn bóng nhẫy mồ hôi, chảy ướt cả dây thừng bên dưới, rõ ràng đã mệt rồi. Thay phiên nhau tông cửa, vừa tạo được đà chạy xa vừa hạn chế bị địch bắn hạ, chiến thuật này do Mỵ Châu nghĩ ra khi thấy quân Triệu Đà công phá Cổ Loa ngày trước. Phía sau, chỉ cách họ vài mươi bước chân, đại quân vẫn che khiên lên, bắn tên xối xả. Dĩ nhiên, trừ phía Đông, những mặt khác Âu Lạc đều ở thế bất lợi, khi vừa phải ở chỗ thấp bắn lên, vừa ngược hướng gió. Họ phải đứng gần thành là có lý do, nhưng không chỉ thế.

 

Rầm!

 

Rầm!

 

Rắc…!

 

Rắc!

 

Uỳnh!

 

– Mở rồi!

 

Tiếng hét sung sướng ấy nhanh chóng truyền đi khắp trong quân.

 

Cổng thành đã mở!

 

Đôi cửa vòm to lớn, cao quá đầu người từ từ mở vào trong, trước sự kinh hãi tột độ của lính thủ thành. Nhưng đã chẩn bị trước việc bị phá cổng, một đội khoảng ba trăm người đã được bố trí sẵn ở đây, ngay bên dưới đường hầm mái cong dẫn vào bên trong. Vách thành dày cũng có cái lợi của nó: Cổng không chỉ là cái vòm ngoài, mà còn là hẳn một hầm chui vừa dài vưa hẹp, rất khó công kích nhưng phòng ngự lại dễ dàng. Các lầu bắn tên bên trên tường giữa hướng thẳng vào phía ấy, sẵn sàng xả tên bắn hạ bất cứ tên man rợ nào lọt vào.

 

Còn bên trong, lính tráng đứng san sát nhau, trong một nơi chỉ rộng tầm hai trượng. Mùi máu, mùi đất, mùi mồ hôi hòa lẫn nhau, xộc vào mũi làm họ muốn ói. Tất cả đều là quân được điều sang từ phía thành Đông, nhưng thay vì lên trên, chỉ huy đã yêu cầu họ đi xuống thủ ngay phía cổng, vì đã thấy địch có trụ phá cổng. Vai kề vai, giáo bên giáo, khiên sát khiên, hàng đứng đầu luôn phải chịu nhiều nguy hiểm nhất. Các đội đằng sau chĩa giáo qua vai họ, tạo thành ít nhất ba lớp những mũi kim loại hình lá liễu lạnh ngắt, vô tình, sẵn sàng lấy mạng bất cứ đứa khốn nào dám tràn vào. Chưa kể hai bên tường còn bố trí mấy lỗ nhỏ, có lính cầm nỏ đứng trong chờ bắn ra. Mỗi bên khoảng hai chục lỗ như thế, bố trí lệch nhau để tăng tối đa khả năng giết chóc. Trụ chân vững vàng, sẵn sàng chờ địch lao tới, quân binh vài tên cắn môi tới chảy máu, mắt mở to đầy căng thẳng, mồ hôi tuôn ào ạt như tắm, chờ đợi…

 

Chờ đợi…

 

Đã thấy bóng địch!

 

Chúng tới!

 

Quân Âu Lạc tràn ngay vào. Lượt đầu tiên, khoảng mấy mươi kẻ man di miệng ngoác to, mặc giáp vỏ mây, tay cầm rìu chiến lao bổ tới. Những tên này không mang giáp, thật ngu xuẩn, gã chỉ huy cười thầm. Gầm rú như dã thú, không có chút kiến thức gì, đến trang bị cũng không có nổi miếng sắt, quả nhiên là lũ mọi rợ ngu xuẩn. Chẳng đứa nào mất não tới mức cầm rìu chạy thẳng về đội hình phương trận đang chĩa giáo ở chỗ hẹp. Đặc biệt, còn có nỏ phía trong tường. Chúng chết chắc.

 

Và đúng như hắn nghĩ, nỏ bắn ngay. Vài tên ngã quỵ, chết đứ đừ, trong khi số khác vẫn cố gắng lao tới, vung rìu loạn xạ, chỉ để bị đâm chết dưới những mũi giáo vĩ đại của triều Tần. Chúng giãy đành đạch, miệng ọc máu tươi, săc như mấy kẻ chết đuối, mắt trợn ngược trông đến tởm. Máu tươi chảy xuống nhuộm đỏ đất. Phải một lát mới chịu chết hẳn, nhưng khi đẩy mấy cái xác ấy xuống, chúng bàng hoàng nhận ra kẻ mình giết không ai khác chính là những binh lính đồn trú trên dãy pháo đài canh gác phía Tây!

 

– Cái quái gì…!

 

Phập!

 

Trong lúc một gã còn bối rối, thì mũi tên đồng từ xa bắn tới đã kết liễu cái mạng quèn của hắn. Đám lính bắt đầu nhốn nháo, trong khi viên chỉ huy lờ mờ hiểu ra gì đó. Có thể nào lũ mọi phương Nam ấy đã bắt sống một số tù binh, khiến chúng hóa rồ như ban nãy rồi dùng làm quân cảm tử? Có thể lắm, chết tiệt! Bị lừa rồi! Những kẻ họ vừa giết chẳng phải địch, mà chính là đồng đội mình! Quân địch bây giờ mới thực sự tràn vào!

 

Đầu tiên, quân Âu Lạc cho những lính mang gỗ ban nãy đi trước. Khiên trên tay họ sát rạt nhau, tạo thành bức màn che không cho tên bên trong bắn ra, nếu có cũng chỉ dính lớp cây dày cộm này. Đội cung thủ, vẫn được bảo vệ, bắn đầu bắn tên điên cuồng từ ngoài vào. Huấn luyện bài bản bởi Cao Lỗ, họ có thể bắn rất nhanh với loại nỏ ngắn dễ mang vác này, chỉ trong một khắc đã phóng đi đến mấy phát, khiến địch dính đầy tên. Mấy kẻ hàng đầu còn đang luống cuống đều thành nhím, trong khi bọn hàng sau chật vật lắm mới giơ khiên lên che được. Chúng tiếp tục giữ vững đội hình, mặc cho bị tên bắn tới tấp. Vẫn chĩa giáo ra, nhưng lần này lại khuỵu gối xuống, che chắn toàn thân, trong khi phía sau gọi thêm viện quân.

 

Chúng không ngờ, ở phía sau, mọi chuyện đã quá trễ.

 

Tại lầu chỉ đạo, hai chủ tướng gặp nhau.

 

Các tướng tham mưu đều bị giết, cơ thể cắm những ngọn giáo nhọn hoắt, hay những mũi tên bọc đồng đâm xuyên qua giáp. Chỉ còn lại gã nguyên soái, lão già một đời tung hoành sa trường ấy, cùng người con gái tóc đen tuyền, cơ thể ngùn ngụt cháy trong thù hận. Còn bên cạnh họ, khu phủ Thành chủ đã bị lửa nuốt chửng.

 

Không chỉ bắn tên cháy bình thường, tướng Lỗ còn cho tẩm dầu rồi đốt mấy khối gỗ to, rồi thả thẳng xuống dưới. Kiểu làm này bình thường tuy có phần không chắc chắn, vì lăn nhiều lửa có thể bị dập, tuy nhiên có dầu hỏa nên cháy đượm hơn hẳn. Lửa lan nhanh vào rường cột, bao phủ khu vực bên ngoài, theo hướng gió bén sang cả mấy công trình gần đó. Tới khi Mỵ Châu tới được đây, thì chỗ ấy đã ra tro gần hết rồi.

 

Phía bên kia, cánh kỵ binh thứ hai cũng đang càn tới. Họ đi chậm hơn vì địch tập trung nhiều mặt ấy, nên phải vừa đi vừa càn quét, cũng không phải không có thương vong. Nhưng đà tiến vẫn như nước vỡ bờ, ngựa chiến phi nước đại tới húc bay lũ quân sĩ bạc nhược đến cầm giáo cũng không chắc. Chúng bị hất bay xuống dưới, không gãy cổ, bể sọ chết thì cũng chết cháy, vì cửa đã chốt chặt. Lá cờ đỏ đi tới đâu, quân Nam Việt khóc thét tới đó. Thậm chí nghe rõ tiếng kêu gào của tên Thành chủ trong lầu, trước khi nó đổ sập xuống hoàn toàn.

 

Chúng kiến như thế ngay trước mắt, ai lại kìm nổi cơn phẫn nộ? Máu dồn đỏ mặt, lão tướng già gầm lên bằng tiếng Hoa:

 

– Con khốn! Ngươi nghĩ ngươi đã làm gì hả? Đây là thành Kim, là nơi trú ngụ của hoàng tộc Nam Việt ta! Ngươi cho rằng Vũ đế sẽ để yên sao?

– Thì?

 

Mỵ Châu trả lời gọn lỏn.

 

– Ngươi… Con đàn bà khốn nạn! Chết đi!

 

Hoàn toàn phát điên, tên tướng quân cầm gươm lao tới. Không nói không rằng, Mỵ Châu cho ngựa phi thẳng lên, làm như thể sắp chém xuống. Tên ấy giơ kiếm, toan đỡ thì ngay lập tức bị chiếc chân ngựa đạp thẳng vào ngực, té lăn ra xa. Hắn không có cơ hội chống cự, hay ra thêm bất cứ mệnh lệnh nào nữa, vì công chúa đã nhanh chóng lấy giáo cắt phăng cái đầu đó ra. Chóng vánh, thực sự là thế. Chẳng trao đổi với nhau một lời, tới cái tên đối phương cũng không hề biết, đối với Mỵ Châu, chỉ là “người phương Bắc”.

 

Cắm đầu tên tướng lên giáo, công chúa giao cho một người lính. Đoạn, cô ra lệnh:

 

– Treo cờ của chúng ta lên, cùng với cái đầu của tên này! Cho lũ khốn này biết chúng không còn hi vọng nữa!

– Vâng!

 

Rất nhanh, cờ Nam Việt bị hạ xuống. Trên nóc lầu, lá cờ Thục – chính lá cờ đã bị Triệu Đà hạ nhục năm xưa – tung bay đầy kiêu ngạo giữa tàn lửa, khói đen, giữa mùi gỗ và xác chết cháy ra than. Đầu tên tướng bị bêu thẳng, vẫn trên mũi giáo, tại nơi bất cứ tên địch nào cũng thấy được. Ngay trước cột cờ. Cái đầu vô hồn, râu ria bạc trắng bị máu tươi nhuộm đổi cả màu, cùng hai con mắt trợn ngược và đầy các vết đạp đến biến dạng, nếu không vì chiếc mũ trụ nổi bật thì đám lính có lẽ cũng chẳng nhận ra.

 

Hít một hơi căng cứng lồng ngực, những người kỵ binh kề miệng vào chiếc tù và sừng trâu, lấy hết sức bình sinh mà thổi thật to, thật rõ, thật kiêu hùng, và cũng thật bi thương.

 

Tu… u… u… u…!

 

Tu… u… u… u…!

 

Tu… u… u… u…!

 

Khi ấy, tường Đông vẫn bị tấn công ác liệt. tên bay vèo vèo giữa hai phía, ghim đầy bên ngoài vách ốp gạch đá. Lính chết nhiều vô số, còn chiến đấu được thực tế chưa tới ngàn rưỡi. Thương vong vô số. Thảm hại vô cùng. Chúng bắn tên, cố gắng đáp trả đợt công kích, trong khi mong đợi những chỗ khác chuyển thêm tiếp viện sang. Tuy nhiên, viện quân không bao giờ đến. Tiếng tù và oan nghiệt vang lên, lần này vọng khắp thành, cùng lá cờ Thục vương bay giữa khói lửa đã báo chúng biết, Kim đã sụp đổ. Phủ Thành chủ cháy ra tro, sụp đổ trong cái màu chói mắt ấy, cùng không biết bao nhiêu tiếng la hét, khóc than.

 

Mặt Nam, nhân lúc địch chùn bước trước tiếng tù và, quân Âu Lạc đồng loạt xông lên. Cung thủ dạt sang bên, lính mang giáo nhắm thẳng phía trước mà chạy nước rút, chĩa mũi đồng nhọn hoắt tới mà thọc lấy thọc để, xiên tan xiên nát thân xác những tên xâm lược đáng chết. Chúng bị cắt nát, có kẻ vạt ngang nửa trên đầu, tên mất lìa tay chân, cũng có những đứa “may mắn” hơn, chết tương đối toàn thây. Nhưng có toàn thế nào cũng không sống nổi, khi nằm hấp hối trên nền đất cũng đã bị bên kia ào tới đạp lên, giày xéo cho thịt nát xương tan.

 

Vừa ùa vào, lính Mỵ Châu đã tản sang các bên, nhanh chóng chạy vô những khu dân cư để lùng giết từng tên một, bất kể già trẻ gái trai, binh lính hay thường dân. Nhưng chúng đã nhanh chóng trốn vào bức thành thứ hai, thành thử nơi này hoàn toàn vắng hoe. Không sao cả. Lính tráng bắt đầu lấy đèn cầy, đèn đầu châm lửa rồi ném vào vách nhà. Nhà cửa Trung Nguyên xây bằng cây gỗ, lại cứ san sát nhau, nên cháy nhanh lắm. Một chỗ, hai chỗ, rồi lan ra cả dãy phố, cả vùng xung quanh, nơi nào cũng thấy lửa lên phừng phực.

 

Những hàng quán bán đồ ăn, các cửa hiệu lụa là vải vóc, tiệm rèn vốn đỏ lửa, đến cả mấy nơi như kỹ viện cũng không được tha. Khu phố phía Nam cháy như chưa từng được cháy, lửa đỏ bốc cao, cùng khói đen cuồn cuộn lên trời, sáng hơn cả lửa báo hiệu. Đồ vật trong nhà bị đập tan, lu vại đựng nước bị phá hết, không chừa lại thứ gì. Những đồ có dầu, đều bị ném vào đám cháy cho dữ hơn. Không khoan nhượng. Không từ bi. Đội quân sống chỉ bằng sự thù hận càn quét qua như cơn bão, không để sót lại bất cứ thứ gì. Tất cả diễn ra trước ánh nhìn bất lực hoàn toàn của những tên lính vẫn còn chiến đấu. Chúng quỳ gục xuống, bật khóc. Rơi cả vũ khí, cả khiên che. Ý chí chiến đấu đã hoàn toàn tan nát, dù nó vốn đã mỏng manh lắm rồi.

 

Vòng ngoài thất thủ, khu trung tâm bị địch chiếm, những kẻ sống sót ở khu giữa đã buông xuôi. Quân lính buông vũ khí xin hàng, tướng trấn thủ treo cổ tự tử ngay trong lầu quan sát. Bên dưới, người dân hoảng loạn hoàn toàn. Họ la hét, cầu nguyện, xin được cứu mạng. Một số cố gắng mở cổng thành, trong khi quân lính cố gắng chặn lại. Bạo loạn xảy ra khắp mọi nơi. Nhiều người tự sát, chủ yếu là phụ nữ, không muốn phải rơi vào tay những kẻ “mọi rợ” ngoài kia.

 

Trẻ con khóc lóc ỉ ôi, người già nước mắt ngắn dài kề dao lên rạch cổ, đám trai tráng sợ hãi ướt quần chui vào chỗ trốn, lũ đàn bà cắn lưỡi chết,… Có mấy tên quá sợ hãi, tuyệt vọng đã tự châm lửa thiêu mình, sau đó làm dính vào nhà khác. Lại có cháy. Cháy lớn, vì trong này trữ rất nhiều chất đốt cho thành. Loạn tới nỗi quân lính phải quay sang tự bắn dân mình, đến nỗi ngồi trên yên ngựa trông ra, Mỵ Châu còn phải bất ngờ trước cách hành xử ấy.

 

– Và chúng gọi chúng ta là lũ man rợ.

 

Bước đến cạnh công chúa, tướng Lỗ – vừa xuống tới – bình phẩm.

 

– Kẻ bảo người khác man rợ mới chính là đám man rợ nhất.

 

Khoanh tay trước ngực, Mỵ Châu nói, không quên ném xuống cái nhìn khinh miệt, như nhìn đống phân biết gào khóc.

 

~oOo~

 

Đầu giờ chiều, khi Mặt trời dần khuất bóng sau rặng núi, cuộc chiến mới xem như hoàn thành.

 

Toàn bộ các điểm phòng ngự cuối cùng của thành Kim đã bị san phẳng. Thật sự mệt mỏi, tuy chỉ huy đã tự sát, một số tên Thập trưởng, Ngũ trưởng vẫn cố gắng tập trung quân lính với dân chúng lại, tiến hành chiến đấu trong những căn nhà. Không biết chúng trữ nỏ liên hoàn ở đâu – và nhất là tại sao suốt trận đánh không thấy mang ra dùng trên tường Nam – nhưng cái thứ nỏ kéo cần gạt ấy thực sự là cái gai trong mắt quân Âu Lạc. Địch luồn lách trong mấy dãy nhà dài, chạy trên mái, nấp sau các con hẻm nhỏ, thậm chí lu, vạc hay bất cứ nơi nào trốn được. Chúng biến từ một cuộc công thành trở thành chiến tranh trong phố thị, nơi mỗi công trình đều là một pháo đài.

 

Theo lẽ thường, người công chiếm sẽ cố giữ tòa thành nguyên vẹn nhất có thể, nhưng Mỵ Châu lại không. Mục đích của cô chưa bao giờ nhắm đến chiếm đóng. Thứ duy nhất người này muốn là trả thù. Tàn sát. Tắm máu. Giết hết đám gia quyến Triệu Đà, không chừa một ai. Lửa bén lên, lan nhanh từ nhà này sang nhà khác. Mùa gió Đông Bắc nên dù có bị núi chắn mất phần nào, chỉ cần châm tại khu vực tận cùng thành Đông thì thể nào cũng lan nhanh thôi. Và thực sự thế. Gió mùa mang lửa đi khắp thành, bén cực nhanh sang mấy đòn mái gỗ kia, và chỉ trong thoáng chốc, nhấn chìm khu thành giữa vào biển lửa, hệt như những nơi khác.

 

Và chỉ khi đó, Mỵ Châu mới chợt nhận ra mình phải ở đây chờ nó cháy xong mới xuống được!

 

Thành thử, phải đến tận chiều quân Âu Lạc mới tập trung, đồng thời xem xét cách xử lý tù binh.

 

Dồn tất cả lại một góc thành, xung quanh là hàng ngàn binh lính Âu Lạc mình mẩy nhệ nhại mồ hôi, máu và tàn tro bám dính, Mỵ Châu thủng thỉnh cưỡi ngựa tới trước. Ở đó, đám người còn sống sót đang ôm nhau khóc, mấy tên còn gan thì ráng quay ra quát nạt, nhưng đều nín bặt khi con chiến mã này dậm mạnh móng xuống đất. Lưỡi kiếm trên tay cô mẻ nhiều, rõ ràng do chém giết quá mức trong khi đáng ra nó chỉ là vật biểu tượng truyền lại trong các đời vua Tây Âu. Vũ khí biểu tượng cho Vương, cho người cai trị. Bây giờ, nó đã uống máu quá nhiều.

 

– Báo! Báo!

 

Một binh sĩ cưỡi ngựa phi nước đại về.

 

– Công chúa! Tướng quân! Đã xác nhận thành chủ và gia quyến hắn chết cháy cả trong tòa phủ kia rồi ạ! Chúng thần thấy một con heo, một con khỉ già, bốn con chó và một bầy cáo trần truồng cháy ra than, vẫn còn bốc khói nghi ngút lắm ạ!

– Miêu tả tốt đấy.

 

Khoanh tay trước ngực, tướng Lỗ khẽ nhếch mép. Đoạn quay sang chủ công, ông bẩm:

 

– Thành chủ và cả nhà hắn chết hết rồi, vậy chúng ta có cần cắt đầu chúng bêu như tên tướng kia không, thưa công chúa?

– Phanh thây ra, mỗi khúc thân xiên trên một cây giáo. Phải lấy giáo của đám chúng nó, tuyệt đối không được lãng phí giáo quý của quê hương ta!

– Rõ! Ngươi nghe rồi đấy! Truyền lại cho các binh sĩ khác chính xác những gì công chúa lệnh!

– R… Rõ!

 

Quất ngựa phi nước đại trở lại chỗ phủ Thành chủ, anh lính biến mất sau góc tường thành.

 

Giờ, tiếp tục công việc chính nào.

 

Thủng thỉnh cưỡi ngựa lại gần đó, công chúa trông ra một con đàn bà ăn mặc có vẻ giàu có lắm, đang ôm đứa bé con chỉ cỡ hai, ba tuổi gì đó trong lòng, hức hức khóc. Con ả ấy, Mỵ Châu nhớ rồi. Nó là nữ tỳ của Trọng Thủy, thằng khốn đã hại mình ra thành thế này! Tới ngay trước mặt, cô vỗ nhẹ vào bờm, tức thì con ngựa co chân đá thẳng vào ả kia. Mụ ngã chổng vó, máu mũi máu mồm tràn đầy. Thằng nhỏ thấy vậy sợ quá, chạy tới ôm chặt mà òa khóc, tiếng con nít khóc nghe mới xé lòng làm sao! Nhưng với Mỵ Châu, chỉ như thêm dầu vô ngọn lửa hận thù.

 

Tới ngay trước mặt, công chúa mỉm cười, hất hàm nói bằng tiếng Hoa:

 

– Còn nhớ ta không con kia? Đúng, là “ta”, kẻ ngươi và thằng khốn Trọng Thủy lừa dối bấy lâu đấy!

– Ngươi… ngươi… Không thể nào! Không thể nào như vậy được!

 

Vừa nhác ngước lên, mụ ta đã la làng như gặp ma. Nhanh chóng giật lùi lại, trong khi dưới cái váy dài đã ướt thứ nước ấm ấm, khai khai, Đứa nhỏ không hiểu gì bỏ chạy theo sau mụ, đôi tay nhỏ bé bấu víu lấy cái thân hình đang run như cầy sấy kia. Mặt mụ trắng bệch, mồ hôi đổ ướt áo, tóc tai dính bết vào gò má. Kinh dị nhất là hai con mắt mở to thao láo như mắt ngáo ộp, hay vong hồn chết trôi, nhìn trối nhìn trân về phía cô gái cưỡi ngựa đó. Ả không tin nổi nữa, môi miệng mấp mấp máy máy, khó khăn lắm mới bật được thành tiếng, nghe gần như chẳng còn là tiếng người nữa:

 

– Công… công chúa… Mỵ… Châu…?

– Phải, là ta đây, con tỳ nữ chết tiệt.

 

Nói đoạn, công chúa ngẩng lên, nhìn tất cả cái đám dân chúng, binh lính đang sợ sệt đầy thảm hại kia một lượt. mắt cô ánh lên tia khinh bỉ. Thật là lũ đáng kinh tởm,. Khi xâm chiếm lãnh thổ người khác thì hung hăng, tàn bạo lắm, tới lúc bị đánh ngược lại thì như mấy con chó, con lợn sắp bị cắt tiết. Giọng điệu đều đều, lạnh tanh như từ chín tầng Âm ti vọng về, cô cất lời:

 

– Nhớ cho kỹ đây đám phương Bắc, kẻ hôm nay giết các ngươi không tha một ai chính là ta, công chúa Mỵ Châu của Âu Lạc! Ba năm trước các ngươi kéo tới giày xéo quê hương ta, thì hôm nay, những gì các ngươi đã làm, ta sẽ trả lại toàn bộ!

 

Mặt không biến sắc, lạnh tanh như lưỡi kiếm trên tay, Mỵ Châu không ngần ngại công khai danh tính của mình.

 

– Không… không… không… Không! Không thể nào!

 

Gào lên như quỷ nhập, mụ đàn bà lồm cồm bò dậy, lết xa ra sau. Vừa lê lết đầy thảm hại, như con heo nái sắp bị làm thịt, mụ vừa run rẩy thều thào:

 

– Không… không thể nào…! Con mọi rợ ngươi… ngươi… đáng ra… phải chết rồi chứ…! Thái tử…. Thái tử ơi, cứu… thần thiếp… với!

– Thằng chết tiệt đó lộn cổ xuống giếng rồi, khỏi kêu cứu.

 

Cười đầy khinh bỉ, Mỵ Châu quay ngựa lại. Đoạn, cô hét to bằng tiếng Việt:

 

– Cung!

 

Tức thì, tất cả lính có thể bắn cung tại đó giương vũ khí lên. Tên tra vào, sẵn sàng chờ lệnh. Chỉ cần công chúa ra hiệu, lập tức hàng trăm, hàng ngàn mũi tên đầu bịt đồng sẽ ghim cho lũ khia không còn nhìn ra con người nữa.

 

– Khoan… Hãy khoan, thưa… công… công chúa!

 

Vẫn là con ả đó gào thét.

 

– Ngươi… không… người… người có thể tha cho… cho… đứa bé này không?

 

Mỵ Châu vẫn không nói gì. Cô giơ tay ngang ra, mấy ngón chụm lại như sắp búng. Nhanh chóng, dây được kéo căng. Nhưng công chúa vẫn chưa vội ra lệnh. Người quay mặt vào, đối diện với binh lính, trong khi ả đàn bà ti tiện kia còn đang gào khóc phía sau.

 

– Xin… xin hãy… rủ… lòng từ… từ bi…! Con trai… đây là Hoàng nhi… của… Thái tử điện hạ…

– Nói tiếng người ta nghe? – Lần nữa, Mỵ Châu “phải” dùng thứ ngôn ngữ của lũ giặc Bắc.

– Dạ… bẩm công chúa…

 

Ả ấy hoàn toàn không còn dám chống cự.

 

– Hoàng tử… hoàng tử… là con của… Thái tử… Trọng Thủy…! Xin người… niệm tình xưa… Thái tử cũng… vì yêu người… mà… hóa điên… đã nhảy giếng… tự tử…! Nên xin… xin người… vì chút tình nghĩa… phu thê… mà tha cho… Hoàng tử…!

– Trò hề.

 

Thì thầm vừa đủ nghe, Mỵ Châu quay ra sau, nói lại toàn bộ những điều đó với quân lính bằng tiếng Việt. Rồi tất cả cười ồ lên, trong tiếng cười có cả sự mỉa mai và khinh thường, coi rẻ. Họ nói rất nhiệu, thậm chí có mấy người cười tới mức phải vịn vai đồng đội bên cạnh mới không vô tình ngã nhào. Mợt trận sảng khoái, màn tấu hài hay nhất ba năm qua! Trong khi đó, đám dân thành Kim vẫn còn chưa hết bàng hoàng, không biết chuyện gì mà bên kia lại có vẻ như thế.

 

Vẫn không nhìn lại, nhưng từ Mỵ Châu, khí thế toát lên khiến cho cả đám trẻ con cũng phải nín bặt. Oán hặn. Căm thù. Giận dữ. Đau khổ. Tất cả. Đã không còn tồn tại nàng công chúa ngây thơ cả tin, yêu mù yêu quáng của ngày xưa nữa. Đứng ở đây, lúc này là một người hoàn toàn khác, với báo thù là động lực sống duy nhất. Một trái tim tan nát, rỉ máu đập trong cái thân thể chẳng còn như xưa.

 

Với chất giọng chẳng khác gì ngàn vạn hồn ma cùng hiện về, Mỵ Châu từ từ, ngoái đầu, cười ngam nhở:

 

– Yêu? Yêu cái thứ súc sinh đó? Ta, một người đã được định sẽ kế thừa Thục vương, bên cạnh không biết bao nhiêu mỹ nam, lại phải tỏ ra “yêu thương, chung tình” với cái thứ chết tiệt đã hại ta ra thế này sao? Để ta nói cho ngươi biết, con khốn, đừng tưởng ta không biết các ngươi bí mật qua lại với nhau, và ngươi đã được hắn gửi vời, với cái bụng chửa như con lợn nái, để thằng khốn Đà có cháu nối dõi! Đừng làm ta cười, thứ cướp nước mạt hạng! Quân ăn cướp mặt dày không có liêm sỉ!

– Ngươi… Ngươi…!

– Và để ta nói cho đám các ngươi biết hết nhé? “Thái tử Trọng Thủy” của các ngươi chết không phải vì thương nhớ ta mà hóa điên, hắn vốn có yêu thương gì ta đâu mà điên với chả khùng! Chính ta, ta đã cho người trà trộn vào hàng ngũ cung nữ của hắn, ngày ngày bỏ thuốc độc, để thằng chết tiệt đó phát rồ, sống không bằng chết! Ta còn muốn hắn phải chịu đày đọa dài dài, tên già chết tiệt kia phải lao tâm khổ tứ vì thằng con trai độc nhất, thì “may mắn” thay thằng đó đi đứng thế nào lại lộn cổ xuống giếng chết đuối! Coi như Trời “thương” hắn, cho chết sớm, chứ ta còn muốn hắn phải khùng khùng dieni96 điên vài chục năm nữa!

– Ngươi… Không thể nào…! Khô…

 

Xoẹt!

 

– Mệt. Nãy giờ có mấy chữ đó nói tới nói lui.

 

Vung kiếm, Mỵ Châu chém bay đầu ả nữ tỳ ấy. Hất lưỡi gươm xuống, cô vẽ lên nền đất cả một vệt máu dài hình cánh cung, giọt văng tung tóe, còn cái xác mất đầu kia co giật ngón tay một chút rồi đổ sầm ra sau, máu đổ thành vũng đỏ tươi có thể soi mặt được. Cái đầu lăn lông lốc tới liền bị chiến mã đen tuyền giơ chân đạp nát, làm văng đầy ra mấy mảnh óc trắng hồng, nhầy nhụa, trông đến tởm.

 

Đồng thời, vì đang bận tay phải, cô đưa tay kia lên, búng cái chóc. Tức thì mấy trăm mũi tên bắn lên đồng loạt, đâm liên tiếp vào đám người đang co rúm nơi góc thành. Tên bay thành mưa, kéo dài đến tầm phần tư cây nhang Mỵ Châu mới ra lệnh dừng. Không còn ai sống sót, ít nhất là đống xác ngoài, khi bị găm đế từng ấy tên. Tới cả đứa bé con ban nãy, thi thể cũng chi chít tên, bị bắn tới biến dạng hoàn toàn. Bộ quần áo vương giả, quý phái rách tả tơi, khuôn mặt bầu bĩnh giờ đầy lỗ những lỗ.

 

Tướng Cao Lỗ ra lệnh quân lính đi lên thu tên về – họ không muốn lãng phí khi không có hậu cần – đồng thời lật đống xác lên, coi còn đứa nào sống sót thì đâm chết luôn thể. Quân lính làm rất hăng hái: Họ cẩn thận rút lên, cố không để mũi đồng ba cạnh mắc lại trong xác lũ khốn này. Đồng thời, xác nào thu dọn song rồi đều bị lật lên, đâm thêm mấy phát nữa cho đảm bảo chết hẳn, thậm chí cắt lìa đầu ra. Có nhiều tên lính ở đây, nên lấy giáo chúng xiên đầu bọn “dân đen” này lên cũng được. Vừa lật vừa đâm, vài anh hăng quá thọc xuyên ruột xác, làm máu tươi lại tuôn đỏ. Mỵ Châu thấy vậy lắc đầu, thế này thì lại phải tốn công chùi rửa rồi.

 

Cuộc thảm sát kéo dài tới khi gần tối mới xong. Thu được chính xác ba mươi sáu cây giáo từ đám xác địch tại góc thành, Mỵ Châu lệnh quân lính ghim hết những cái đầu đã bị cắt lìa lên. Cứ mỗi cây một đầu, thiết giáo thì ấn thêm vô như que thịt xiên. Mũi giáo hướng lên trời, cán chống cố định xuống nền đất ở đây, thành cảnh tượng mà cả những ai vững lòng nhất cũng muốn ói. Xác chết gom hết lại một chỗ, định thiêu đi, nhưng tướng Lỗ nói không cần. hãy cứ để chúng ở đó, thối rữa, mịc nát, làm chỗ cho đám côn trùng, dòi bọ chui nhung nhúc như đúng cái sự mục ruỗng từ xương tủy của đám phương Bắc. Đồng thời, để xác như vậy thì khả năng lây lan dịch bệnh cao hơn, càng khiến nhiều tên Trung Hoa phải khổ sở.

 

Nhìn chỗ này lần cuối, Mỵ Châu thúc ngựa quay ra phía cổng Nam, dẫn đầu đoàn quân. Mọi lá cờ Âu Lạc đã được thu về. Trận chiến này quân ta thiệt hại chưa tới một ngàn, trong khi địch, tính cả dân trong thành, gần năm vạn, bị giết sạch. Hao nhiều nhất là tên, ghim trên tường không lấy được, chưa kể số khác bị đốt trụi cùng mấy căn nhà. Kỵ binh không thiếu ai, đội cung thủ thiệt hại ít, trong khi cánh quân phá cổng mất nhiều nhất. Họ hoàn toàn ở thế bất lợi trong cuộc chiến đó, nhưng vẫn xoay sở mở được cổng thành và tràn vào, thực sự đáng khen ngợi.

 

Nhưng…

 

Trả thù rồi, tại sao không ai vui?

 

Mà chỉ thấy lòng trống rỗng, rồi nặng trĩu.

 

Chính Mỵ Châu cũng không biết, dù cô đã lãnh đạo chiến dịch này. Trong lồng ngực, con tim bỗng quặn thắt lại. Cảm giác thật khó chịu, như thể vẫn còn chưa thỏa đáng. Vẫn chưa dược.

 

Cưỡi ngựa đi bên cạnh, Cao Lỗ hỏi:

 

– Trả thù rồi sau này thế nào, thưa công chúa?

– Quay về nghỉ ngơi đã, ta mệt rồi.

 

Bẻ cổ tay mấy cái, Mỵ Châu nói, nhưng giọng nói hoàn toàn không còn như trước nữa. Nó buồn da diết, thê lương, dẫu vậy vẫn có chút gì đó mạnh mẽ. Đoạn, quay sang vi tướng từng được xem như cánh tay phải của Thục vương, cô nói:

 

– Nhưng đây chưa phải là kết thúc! Chưa phải lúc này! Chúng ta vẫn còn phải đoạt lại quê hương! Bây giờ chưa được thì tương lai sẽ được! Ta không biết mất bao lâu, mười, một trăm, hay kể cả một ngàn năm, nhưng nhất định chúng ta sẽ giành lại! Chết tiệt, tụi khốn xâm lược! Chừng nào đám giặc các ngươi diệt sạch mọi nhánh cây ngọn cỏ trên đất Âu Lạc, thì chừng đó dòng máu này mới ngừng chống lại!

 

 

 

 

 

 

 

Bài cùng chuyên mục

Ngong ngong

Ngong ngong (4 ngày trước.)

Level: 9

95%

Số Xu: 7985

Hội/Nhóm

[Vnkings Supporter]

[Vai trò: Thành viên][Cấp bậc: Đồng Đồng]
Ngong ngong đã tặng 5 Xu cho Tác Giả.

Dài thật là dài quá đi a. T.T


Hoàng Văn Mai

Hoàng Văn Mai (7 ngày trước.)

Level: 3

66%

Số Xu: 199

ngồi đọc lại, vẫn thấy dài thật sự!

 


Lục Minh

Lục Minh (2 tháng trước.)

Level: 12

85%

Số Xu: 21260

Hội/Nhóm

[Vnkings Supporter]

[Vai trò: Trưởng nhóm][Cấp bậc: Vàng Vàng]
Lục Minh đã tặng 10 Xu cho Tác Giả.

Đi tặng xu làm nhiệm vụ chơi, nhân tiện thăm hỏi than thở. Đang lúc nhớ ngươi thì ngươi trồi lên *mở bia* mấy nay đang nổi cơn cà khịa. Những lúc thèm cà khịa nhớ ngươi vãi mèo già ạ *ném lon bia vào mặt mèo*


Nguyệt Băng

︵✿๖ۣۜKɦả Áĭ‿✿ (2 tháng trước.)

Level: 5

70%

Số Xu: 10

Truyện hay lắm bạn


Nguyệt Băng

︵✿๖ۣۜKɦả Áĭ‿✿ (2 tháng trước.)

Level: 5

70%

Số Xu: 10

Truyện hay lắm bạn


Phúc Gia Toàn Phan

Phúc Gia Toàn Phan (3 tháng trước.)

Level: 9

69%

Số Xu: 5393

Lục Minh

Thứ ngươi thì có đem súng máy ra nã cũng chẳng chết chứ bóp cổ một chút có là gì. Không cần khiêm tôn đâu.

Nyufufufufufu =v=

 


Lục Minh

Lục Minh (3 tháng trước.)

Level: 12

85%

Số Xu: 21260

Hội/Nhóm

[Vnkings Supporter]

[Vai trò: Trưởng nhóm][Cấp bậc: Vàng Vàng]

Phúc Gia Toàn Phan

Ta chết r coi ai bẻ bút cho mi =v=  

Thứ ngươi thì có đem súng máy ra nã cũng chẳng chết chứ bóp cổ một chút có là gì. Không cần khiêm tôn đâu.


Phúc Gia Toàn Phan

Phúc Gia Toàn Phan (3 tháng trước.)

Level: 9

69%

Số Xu: 5393

Lục Minh

*bóp cổ lắc lắc*

Ta chết r coi ai bẻ bút cho mi =v=

 


Lục Minh

Lục Minh (3 tháng trước.)

Level: 12

85%

Số Xu: 21260

Hội/Nhóm

[Vnkings Supporter]

[Vai trò: Trưởng nhóm][Cấp bậc: Vàng Vàng]

Phúc Gia Toàn Phan

Typo là truyền thống r =3=    

*bóp cổ lắc lắc*


Phúc Gia Toàn Phan

Phúc Gia Toàn Phan (3 tháng trước.)

Level: 9

69%

Số Xu: 5393

Lục Minh

Một nùi lỗi typo :v Nhưng miêu tả hay quá... ngươi lại viết lên tay đấy à? *ngồi chọt con kiến* hay ta đem ý tưởng này nguyên bộ cho...

Typo là truyền thống r =3=

 

 


Xem Thêm
Vnkings.com

Thành Viên

Thành viên online: và 62 Khách

Thành Viên: 33217
|
Số Chủ Đề: 5263
|
Số Chương: 17287
|
Số Bình Luận: 49192
|
Thành Viên Mới: Thiên Hạ