2. Tiếng đàn đệm những bước chân

Nghe Audio

A/N: 

– Câu chuyện này mình đã muốn viết từ khá lâu rồi, nhưng vì nhiều lý do (trong đó có lười) mà giờ mới hoàn thành được.
– Không biết việc phụ thuộc vào cảm hứng là một điều tích cực hay tiêu cực, nhưng phải tới thời điểm hiện tại – khi mình đã cảm thấy sẵn sàng, cảm thấy có điều gì đó thôi thúc mình phải hoàn thành ngay lúc này – thì mới quyết định sẽ bắt tay vào viết, và phải viết đến khi xong thì thôi.
– Truyện vốn được gộp lại từ 4 truyện ngắn khác nhau nên có thể hơi dài so với những truyện ngắn thông thường của mình.

Lưu ý: Đây là một sản phẩm của trí tưởng tượng. Mong bạn đọc đừng quá nghiêm túc trước những tình tiết hư cấu như việc người VN đạt giải Chopin và Helsinki.

            Cặp sinh đôi có mái tóc nâu đỏ nhạt được bà đỡ bế đặt bên giường. Ba mẹ con nằm nghỉ tại phòng riêng, xung quanh là những bó hoa lớn nhỏ, phía tay trái có cái loa kèn chạy đĩa than – loại hay thấy trong mấy bộ phim đen trắng – đang phát bản dạ khúc số 9 của Chopin.

* * *

        Tại một bệnh viện nhỏ và cũ bẩn hơn nằm trên địa bàn Hà Nội, có đứa bé đang nằm ngủ trong lồng kính với một bó dây nhợ dán khắp người. Nó là trẻ sinh non, và mẹ nó – dù vẫn chưa lại sức sau cuộc phẫu thuật vừa rồi – mắt hướng lên trần nhà, cố gạt đi những tiếng nói chuyện léo xéo của những sản phụ nằm chung phòng. Chị tự hỏi đứa con đó sau này có sao không; nhưng, vấn đề ngay trước mắt là bệnh viện sẽ tính chị bao nhiêu tiền. Trời đã sáng rồi, chị cũng tự hỏi bao giờ thì chồng mình sẽ tới.

* * *

        N là một đứa bé xinh xắn: Cái đầu tròn với mái tóc đen cưng cứng, hai mắt to tròn đen như hột nhãn, da dẻ thì căng hồng và tay chân nó chỉ nhìn vào thôi là mọi người đã muốn nắn, muốn véo để cảm nhận sự mềm mại và thơm tho rồi.

        Lúc N được 3 tháng tuổi, trời lạnh buốt cắt da thịt; hơi ẩm từ lượng mưa phùn cùng bụi bặm đường phố hàng ngày ùa qua cánh cửa sổ xập xệ khiến hệ hô hấp của thằng bé bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nó ho suốt cả tuần không khỏi, nôn trớ, tiêu chảy, và những cơn sốt nặng nhẹ luân phiên kéo đến quấy rầy thằng bé hàng đêm. N bỏ bú sữa mẹ, mà mẹ nó cũng chẳng có nhiều sữa. Làn da hồng hào nay tái mét; đôi mắt bồ câu giờ trũng sâu, vàng vọt và đờ đẫn. Trông N nằm bẹp trên giường, những người họ hàng ác khẩu quy tội cho mẹ N vì đã không biết cách chăm sóc để nó ốm yếu thế này, trong khi đáng ra phải nuôi N như thế kia – như cách người ta chi tiêu, ăn uống không cần bận tâm tới tiền bạc, như cái cách người ta đặt con họ vào trong nôi gỗ nhập từ Cộng hòa Liên bang Đức về, và cứ hễ trời lạnh là một cái lò sưởi điện luôn sẵn sàng bật lên.

* * *

        Giữa cái rét căm căm tháng Một Hà Nội, cô trông trẻ nhẹ đung đưa nôi cho hai nhóc tì nằm bên trong. Đứa bên phải đi giày xanh lá là anh; còn đứa có đôi giày xanh biển, luôn mút lấy ngón tay cái trong lúc nó ngủ mơ là em. Công việc của cô nghe chừng đơn giản: chỉ cần để mắt tới lũ sinh đôi, cho chúng ăn mỗi khi đói, thay tã khi chúng ị, vỗ về chúng khi chúng trớ sữa hay khóc nhè. Lý thuyết là vậy, nhưng chủ nhà là những ông bà cực kì khắt khe khó tính. Họ không muốn con họ vướng phải lũ vi khuẩn nào; họ không muốn con cái họ gặp phải những sự cố vô tình nào có thể khiến da thịt chúng trầy xước, thậm chí tím lên; họ càng không muốn có vết sẹo hay thương tích gì lưu trên cơ thể chúng, nên mỗi khi bế ẵm phải luôn cẩn thận nâng niu vùng tay, chân, đầu và xương sống. Tóm lại, họ yêu cầu rất nhiều thứ và cũng không muốn rất nhiều thứ, mà đôi khi cô cảm thấy lượng tiền công gấp ba chẳng thể bù đắp cho áp lực mình phải chịu đựng.

        Dân nghệ sĩ nên tính tình quái gở, dân nghệ sĩ tự cao tự đại coi mình là vàng bạc và lũ con đẻ ra cũng là châu báu luôn, cô trông trẻ tặc lưỡi. Dù sao cha mẹ nào chẳng coi con cái là ngọc ngà quý giá nhất đời, phần lớn là vậy.

        Hai vợ chồng khó tính ấy sống trong một căn biệt thự tại vùng ngoại ô Hà Nội. Ở đó mỗi ngôi nhà đều cách xa nhau một đoạn đều đều, nhà nào cũng to, nhà nào cũng đẹp. Tất cả các công trình ở đây đều được thiết kế theo kiểu Pháp với tường sơn màu nhạt; mái ngói nhập từ Ý; trước nhà có vườn hoa, sau nhà có vườn rau quả; trần nhà xây cao, chính giữa treo một cây đèn chùm pha lê tỏa ánh nến vàng xuống sàn lát cẩm thạch; cùng những khung cửa sổ to thuận phong thủy luôn đón trọn nắng sớm và gió mát vào mùa hè, hoàn toàn không phải lo gì mỗi khi gió mùa đông bắc tràn về. Điểm khác biệt duy nhất giữa tổ ấm của mọi người với nơi ở của cặp vợ chồng này, đó là trong nhà họ có cây dương cầm đen to sụ. Ngày ngày, người ta vẫn nghe thấy từ ngôi nhà ấy vang lên tiếng đàn.

* * *

        Xuất thân từ gia đình có truyền thống khiêu vũ balê cổ điển cả bố lẫn mẹ, ngay từ nhỏ Thương đã biết mình sinh ra là để múa. Điều kiện của gia đình hoàn toàn cho phép Thương dễ dàng thực hiện điều đó, cô bé năm tuổi tin và biết chắc lớn lên mình sẽ là một vũ công tài năng. Vì thế, suốt cả thiếu thời của mình, Thương miệt mài tập luyện cả trên học viện lẫn về nhà, thậm chí phải cố gấp mười lần những học viên thường vì cái danh “con nhà nòi”. Thương không yêu balê, cô coi khiêu vũ như là chuyện ăn uống và hít thở hàng ngày. Những chấn thương; những đau đớn của bệnh viêm móng lan khắp các đầu ngón chân vặn vẹo sưng vù máu; những đêm kiệt quệ nằm ngủ rũ trên giường, toàn thân run lẩy bẩy; đổi lấy những tháng ngày chỉ có bước đi trên đầu ngón chân, lướt như bay, xoay thân và nhún mình đầy uyển chuyển dưới ánh đèn. Những lời xì xào ra vào của người ngoài, sự trông đợi của toàn bộ gia đình nội ngoại… — Thương coi tất cả đều là động lực, động lực cấm mình không được bỏ cuộc, phải thúc bản thân qua cả giới hạn và tiến xa hơn nữa!

        Và Thương đã làm được. Cô đã trở thành vũ công balê hàng đầu Việt Nam, sau đó vượt qua hàng trăm thí sinh từ hơn 40 quốc gia khác nhau để vinh dự trở thành người về nhì cuộc thi balê quốc tế Helsinki, tổ chức bốn năm một lần tại Phần Lan.

        Hai mươi hai tuổi, đúng lúc sự nghiệp đang lên như diều gặp gió, Thương phát hiện mình mang đứa con của một nghệ sĩ dương cầm hơn cô tám tuổi, cũng là người được cha Thương mời tới biểu diễn tại buổi dạ tiệc chúc mừng cô chiến thắng. Cái thai đã ba tháng và Thương không thể bỏ, buộc lòng cô phải lên xe hoa và giã từ sân khấu. Đứa con gái đầu lòng của cặp đôi tài hoa ấy ra đời trong sự chúc mừng xen lẫn ngưỡng mộ của mọi người. Cô bé trắng trẻo, có mái tóc đen nhánh của mẹ và cái mũi cao cao của bố. Họ hàng gần xa, bạn bè, đồng nghiệp của cha mẹ gửi cho nó biết bao nhiêu thiệp mừng và quà. Tất cả đều nghĩ nó lớn lên sẽ nối nghiệp của một trong hai người, lại tiếp tục làm dòng họ nở mày nở mặt. Chà, chị Thương và anh Tình mới may mắn, mới hạnh phúc làm sao!

* * *

        Với trình độ học vấn 10/10, cậu thanh niên P cảm thấy chữ nghĩa trong đầu mỗi lúc một rơi rớt dần và không thể tiếp tục việc học cao hơn được nữa. Kế hoạch của cậu là sẽ ở nhà kinh doanh. Năm đầu tiên, nhờ sự ủng hộ kiêm thương hại của bạn bè và họ hàng, cậu hòa vốn. Năm thứ hai có hơi lỗ nhẹ nhưng vẫn xoay sở được. Và tới năm thứ ba, P chính thức bỏ buôn bán. Chiều chiều người ta vẫn thấy P la cà mấy quán nước, lọc xọc điếu thuốc lào bên li trà đá và những xấp lô đề.

        Khi đã ngoài ba mươi, P ngập trong nợ nần và quá nhàm tai trước sự hối thúc của gia đình về chuyện lấy vợ. Anh hỏi đại một nữ công nhân ở nhà máy dệt, tuy lời hỏi hăn chẳng lãng mạn gì và hai người chẳng biết mấy về nhau, chị ta đồng ý vội vì cũng thuộc dạng quá lứa lỡ thì. Hơn nữa, chị cũng nghe nói rằng điều kiện tài chính gia đình P rất khá, anh ta có một cửa hàng bán gì đó. P ngọt nhạt với vợ đủ điều về mình, về những người thân thích của anh. P nói rằng vợ cứ về đây và nghỉ luôn việc ở nhà máy đi để toàn tâm toàn ý chăm lo cho đứa con cũng như gia đình.

        Cuối năm đó, vợ P biết mình đã có thai. Cũng cuối năm đó, chị ta biết mình đã nhìn lầm người.

        Khi mang bầu tới tháng thứ bảy, vợ P – cố nhìn bằng con mắt trái chưa bị đấm tới sưng húp lại – đang thu dọn những mảnh vỡ từ chiếc nồi cơm điện. Những cơn đau bụng kéo đến như có chu kì, chị sợ hãi khi thấy máu rỉ ra giữa hai chân mình. Chồng chị đã bỏ đi chơi được một lúc lâu, và anh ta có vẻ bực bội nên chị quyết định sẽ tới bệnh viện một mình. May mắn làm sao, các bác sĩ đưa chị vào phòng mổ ngay lập tức. Người nhà nói rằng họ đã gọi điện thoại hết sáu lần, cả sáu lần anh P đều không nghe.

        Nằm ở phòng hồi sức một tiếng, rồi hai tiếng trôi qua, mặt trời đã ló rạng và người vợ tự hỏi tại sao mãi mà chồng vẫn chưa đến được đây. P không muốn tới nhìn mặt con sao?

* * *

        Cặp sinh đôi Dũng và Khôi, người lạ nhìn qua thường nhận xét chúng như hai giọt nước. Chúng nói chuyện theo kiểu đứa này nối lời đứa kia, lại mặc đồ giống nhau, cũng một mái tóc màu đỏ đồng kì lạ được cắt tỉa y chang nhau. Còn với cha mẹ và những ai tiếp xúc hàng ngày với chúng, họ biết đặc điểm phân biệt giữa Dũng và Khôi là gì. Khôi mang nét nhỏ nhắn của mẹ, nó có vẻ ngoan hơn và hòa đồng hơn; trong khi Dũng có một cái nhìn xiên ang ác, thằng bé ít nói và hay tỏ ra khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc của chính mình. Cả hai đều lớn lên trong sự giáo dục nghiêm khắc và bao bọc thái quá của cha mẹ. Kể từ năm 3 tuổi, chúng đã được cho tiếp xúc hàng ngày với balê và dương cầm, cường độ vô cùng dày đặc. Bố mẹ chúng tin rằng đó là cách tốt nhất để kích hoạt tài năng vẫn còn ngủ quên trong hai anh em, cũng như tình yêu với những bộ môn ấy. Đáp lại kỳ vọng, Dũng tuy hơi vụng về trong phòng tập múa nhưng hào hứng vô cùng với những bản nhạc piano; trong khi Khôi mãi vẫn chẳng phân biệt được vị trí nốt sì (nốt trầm dưới đô) với nốt đô chứ đừng nói đến khóa son hay khóa fa, mà thằng bé thì như một con vịt đạp nước balê trên cạn. Tương lai đã rõ, cuộc đời đã được định đoạt: Khi Dũng đủ mười tám, thằng bé sẽ tới Học viện âm nhạc Quốc gia rồi sau đó ghi tên mình tại bất cứ cuộc thi piano nào tầm cỡ ngang với Chopin (Tên cuộc thi). Ít nhất nó phải mang danh hiệu gì về, hoặc đừng bao giờ gọi người đàn ông và đàn bà đã sinh ra mình là cha mẹ nữa. Còn thằng Khôi, tốt hơn cả là nên vào trường chuyên lớp chọn và đừng nghiện hút hay làm điều gây xấu mặt gia đình.

        Hàng ngày, Dũng tập đàn bên bố và một thầy giáo già nữa mà bố đã tin tưởng thuê về với mức thù lao không hề rẻ. Bố bảo đó là thầy dạy bố năm xưa. Dũng có năng khiếu nhưng vẫn bị mắng rất nhiều, và cứ mỗi lần thầy đập mạnh cái thước gỗ lên bàn, thằng bé lại giật bắn người rồi lăn đùng ra gào khóc, kêu lên những tiếng dài và có những động tác bẻ tay quái lạ. Bố mẹ Dũng rất sợ hãi, phải can thiệp ngay. Họ sợ đôi tay lẫn tâm lý thằng bé sẽ bị ảnh hưởng và nó không thể chơi đàn được nữa, còn thầy giáo thì cho rằng Dũng được nuông chiều tới hư hỏng. Thằng Khôi thường hay nép mình sau cánh cửa nhìn anh tập đàn bên bố, rúc rích cười mỗi lần Dũng “lên cơn”.

        Tưởng Dũng thành như vậy là vì sức ép phải thành tài khi còn quá nhỏ tuổi, hai vợ chồng cho Dũng nghỉ một thời gian để lấy lại cân bằng. Hóa ra cái thước gỗ chỉ là một ví dụ mở đầu cho hàng loạt những ngỡ ngàng nơi cha mẹ Dũng. Bất cứ thứ gì khiến Dũng bất ngờ tới mức hoảng sợ và lo âu, thằng bé đều phản ứng lại rất mãnh liệt. Trời sinh Dũng có tài, nỡ lòng nào ông không cho nó cơ hội biểu diễn? Như vậy thì nhục nhã quá, cặp vợ chồng nghệ sĩ đều đồng ý phải giấu kín chuyện này!

        May mắn thay là bố mẹ Dũng đã giấu không đủ kĩ. Bạn của bố Dũng là một bác sĩ. Chú tới nhà chơi đúng lúc bắt gặp Tình đang bất lực nhìn đứa con co quắp lại một góc tường. Vị bác sĩ nhận ra ngay những biểu hiện bất thường của đứa trẻ và nói rằng:

        “Anh chị phải cho cháu đi kiểm tra khẩn trương!”

* * *

        Cuộc sống vất vả, chị P đành nhắm mắt gửi gắm N hết nhà này đến nhà khác để mình có thể đi kiếm tiền. Công nhân làm 8 tiếng một ngày, chị làm ngoài thêm hai giờ nữa mong có chút đồng ra đồng vào mua sữa và đủ thứ khác cho con. Cứ hễ về tới nhà là chị nằm vật xuống giường, hoàn toàn cạn kiệt. Bé N nhớ mẹ, nó khóc nhiều quá tới khản giọng. Thấy mẹ về, nó càng quấy hơn. Mệt mỏi, bức xúc, P mắng đứa trẻ. Nó khóc kệ nó, mệt thì sẽ phải ngừng thôi. Rồi đúng là nó nín thật.

        N bị viêm phổi nặng. Thằng bé phải nằm điều trị cả tháng trời trong viện, ngày ba lần y tá tới tiêm những liều kháng sinh nặng vào cơ thể non nớt của nó. Đã nghèo còn mắc cái eo, trời thì rét mà N thì yếu, lại còn phải chịu thêm những tổn hại mà kháng sinh để lại. Thương con, thương mình, người mẹ khóc. P nghĩ chị không phải là một người mẹ tốt, còn con chị thì đâu có gây tội tình gì mà phải chịu đựng những bất hạnh này. Đã không ít lần chị P quẫn trí và định ôm con ra cầu tự tử vì chẳng biết cuộc sống mịt mờ rồi sẽ đi đâu về đâu.

        Khi N tròn ba tuổi, mẹ nó cuối cùng cũng đã làm quen được với sự thật rằng bố ruột của N đã bỏ rơi cả hai mà đi biệt tích. Cảm thấy ái ngại với việc nhờ vả người khác nuôi thay con mình, chị nghỉ làm ở nhà máy dệt và quyết định trở thành người giúp việc cho một gia đình nào đó khá giả, như vậy sẽ dễ bề để ý chăm sóc con hơn.

        Ba tuổi, N đi mẫu giáo và được các cô dạy múa hát. Ngày nào về nhà thằng bé cũng có bài hát mới cho mẹ và gia đình chủ nhà nghe. Tiếng hát và sự hồn nhiên của N khiến mẹ nó quên hết cả mệt mỏi và đau khổ. Nhớ lại những ngày tháng u uẩn trước đây, chị P đến bật cười trước sự dại dột của chính mình.

        Những tiếng hát cứ mất dần, cho tới một ngày, N hoàn toàn im lặng. Thằng bé tỏ ra lơ đãng, ai hỏi gì nó cũng không đáp, gọi tên thì không thưa. N khép mình lại, cô mẫu giáo bảo nó cứ ngồi lì một chỗ trong lớp chẳng chơi cùng ai. Về đến nhà, N lại đắm mình vào bộ phim hoạt hình trên TV. Công việc bận rộn và vốn kiến thức ít ỏi khiến chị P chẳng có thời giờ lẫn cơ sở để mà lo lắng. Chị nghĩ N chắc đang trong giai đoạn phát triển, tính cách nó có thay đổi cũng là chuyện bình thường thôi. Chị P không nhận ra đứa con trai duy nhất của chị đã khác xưa đến thế nào, cho tới một ngày nó bắt đầu hét lặp đi lặp lại một âm thanh chói tai duy nhất. N thích nhìn chằm chằm vào đồ vật hơn là nhìn mẹ nó, N cứ tự đánh vào đầu mình trong lúc nhảy giậm chân thuỳnh thuỵch xuống sàn.

        N giờ đã 5 tuổi và thằng bé hoàn toàn mất đi khả năng giao tiếp. Một ngày của nó cơ bản chỉ có hò hét, quay tròn, phá phách, và thỉnh thoảng là những trận khóc cười không thể kiểm soát. Người mẹ rất sợ hãi, chị sợ con mình đã hóa điên mất rồi!

* * *

        Cầm tờ kết quả của bệnh viện trong tay, Tình cảm thấy mặt đất chao đảo, phải ngồi ngay xuống ghế. Những lời nói sau đó của bác sĩ, người bố không thể nghe được gì nữa, khi mà hai chữ “tự kỷ” cứ như con thít chặt lấy tim anh, làm lu mờ hết tâm trí anh. Tự kỷ là gì, Tình không rõ, nhưng tại sao thằng Dũng lại bị tự kỷ?

        “Anh Tình!” Bác sĩ gọi, cố đánh thức người đàn ông đang chìm trong cơn xúc động.

        “Có tôi…”

        “Mọi bậc làm cha mẹ đều muốn con cái mình sinh ra khỏe mạnh và giỏi giang, nhưng sự đã vậy, anh đừng quá đau khổ.”

        “Nói thì dễ lắm! Cứ thử sống cuộc sống của tôi, có đứa con như tôi đi!” Tình gắt.

        “Anh nói như vậy là không đúng rồi. Có rất nhiều dạng tự kỷ, phân thành những cấp độ nặng nhẹ khác nhau. Bé Dũng vẫn may mắn, anh hãy xem bản phân tích chỉ số thông minh của con đi… Thằng bé chỉ tự kỷ ở mức độ nhẹ thôi, nó hoàn toàn không thiểu năng, vẫn giao tiếp được gần như một người bình thường mà.”

        Tình lắc đầu chán nản.

        “Gia đình có để ý xem cháu tỏ ra hứng thú trong lĩnh vực nhất định nào đó không?”

        Tới đây thì ánh mắt nghệ sĩ dương cầm đã giải nghệ chợt đổi khác.

        “Thằng bé chơi đàn hay lắm. Hai vợ chồng tôi mong nó có thể thành tài khi lớn.”

        “Tôi đã từng gặp vài trường hợp tương đối giống cháu Dũng rồi. Có đứa thì chơi kèn, có đứa lại đánh cờ rất giỏi.”

        “Vậy là vẫn còn hy vọng phải không?”

        “Tất nhiên rồi. Tôi sẽ cho anh chị địa chỉ của trung tâm phát hiện và can thiệp sớm, hãy chịu khó vì con cái.” Bác sĩ lấy từ hộp nhựa một tấm danh thiếp màu vàng nhạt đưa cho anh Tình. “Bé Dũng sẽ học được cách sống chung với tự kỷ, kiểm soát bản thân tốt hơn – với điều kiện là cha mẹ phải hết sức nhẫn nại và để mắt tới mọi sự bất thường của con.”

        “Vâng, cảm ơn bác sĩ rất nhiều!” Bàn tay thuôn dài của người bố đưa lên gạt nước mắt. Anh cúi xuống mỉm cười với cậu nhóc (mà anh tin) trong tương lai sẽ là nghệ sĩ dương cầm. “Chào bác đi con, rồi chúng ta về.”

        “Cháu chào bác ạ.”

        Những tia nắng mặt trời rực rỡ hắt lên mái tóc ánh đồng của hai bố con. Tình đóng cửa ô tô, lái thẳng từ bệnh viện về nhà, chỉ mong về càng nhanh càng tốt để báo với vợ rằng trong cái rủi vẫn còn cái may.

        Kể từ đó, lịch học tập và sinh hoạt của Dũng được thay đổi lại để nhóc vừa có thể tới trung tâm mà vẫn được học đàn và mang màu ra công viên vẽ cho thư giãn. Những người thiếu hiểu biết sẵn niềm đố kị trong người đã thừa cơ miệt thị, gọi Dũng là “thằng dở hơi”, thi nhau truyền miệng rằng nhà Dũng có “gien điên”. Đứng trước tình thế ấy, người vợ phẫn nộ vô cùng, quở trách chồng vì đã quá lộ liễu. Tình không muốn bận lòng trước miệng lưỡi thiên hạ mà ảnh hưởng tới việc điều trị của Dũng. Con anh không giống như những đứa trẻ bình thường, nhưng như thế đâu có nghĩa là nó không xứng đáng có được tình yêu thương. Năm tháng trôi qua, nhờ việc chở Dũng đi học đi chơi hàng ngày, một sự gắn bó vô hình lớn dần lên giữa hai người – điều mà trước đây Tình chưa bao giờ để tâm tới. Tình từng nghĩ Dũng chỉ là một phiên bản nhỏ hơn của mình và anh cũng nuôi dạy Dũng làm sao để nó trở thành đúng phiên bản nhỏ hơn của mình mà thôi. Còn những điều mà Tình làm bây giờ, anh làm vì mình là cha, và Dũng là con của anh.

* * *

        Một chiều mưa phải ở nhà tập đàn, Dũng (nay đã mười bốn tuổi) hỏi bố trong giờ nghỉ giải lao rằng: “Bố ơi, tại sao bố không đi biểu diễn nữa?”

        Bố của Dũng từng chơi đàn tại những nhà hát lớn mà lúc ấy nó còn quá nhỏ để có thể biết tên, quá nhỏ để có thể nhớ. Thằng bé thấy lạ lắm, vì nhóc thấy bố vẫn hay tìm mua đủ loại đĩa, đọc đủ các loại sách báo tạp chí, vẫn viết nhạc xuống giấy và đi dạy học, nhưng ông không bao giờ còn xuất hiện trên bất cứ chương trình hay sự kiện nào liên quan đến âm nhạc cổ điển.

        Đó không phải là chuyện mà Tình có thể chia sẻ với con một cách dễ dàng. Anh bảo nó đi theo mình.

        Tại phòng làm việc của bố, nơi mà Khôi không bao giờ được phép vào nghịch, còn Dũng thì chỉ thỉnh thoảng vào học, bố đưa cho Dũng xem một quyển album khổ lớn dày cộp. Màu sắc của chúng tương đối cũ, nhiều người trong đó Dũng không nhận ra.

        “Đây là chị của con, tên là Hoa Thu.” Bố Dũng chỉ vào ảnh cô bé mặc đồ múa, tay ôm chiếc cúp vàng. Trán cô bé vẫn còn bết mồ hôi, nhưng nụ cười trên môi thì không thể rạng rỡ hơn trước niềm vui chiến thắng. “Ảnh này chụp năm chị mười hai tuổi, đoạt giải nhất cuộc thi balê cấp quốc gia.”

        Tới đây, Tình cảm thấy không biết nên tiếp tục như thế nào. Những gì vợ anh đòi hỏi ở Thu cũng hệt như những gì anh khao khát ở Dũng. Làm thế nào để cho Dũng và Khôi biết rằng bố mẹ thật ra chẳng có ý định sinh hai anh em mà không làm chúng tổn thương?

        “Sao thế bố?” Dũng ngơ ngác nhìn bố. Mũi bố bỗng dưng đỏ lên và phập phồng theo những hơi thở mạnh, giống như Dũng khi cố nín khóc.

        “Hoa Thu không những biết múa, con bé còn diễn được cả kịch. Lúc ấy cả bố lẫn mẹ đều coi Thu là ngôi sao nhí, là con gà đẻ trứng vàng danh vọng cho gia đình. Mẹ bắt chị con luyện tập không ngừng nghỉ, còn bố làm tài xế riêng đưa chị đi biểu diễn khắp nơi. Tiếp xúc với sân khấu từ quá sớm có thể làm hư đứa trẻ, bố biết vì bố từng như vậy, nhưng bố lại nhắm mắt làm ngơ. Mẹ con phải từ biệt sân khấu khi vẫn còn trẻ đẹp, điều đó ảnh hưởng đến tâm tính mẹ rất nhiều, lúc nào cũng gắt gỏng. Bố không muốn hủy hoại niềm vui của mẹ, con không biết mẹ đã rơi nước mắt bao nhiêu lần xem chị con múa…”

        “Chuyện gì xảy ra ạ?”

        “Thu múa vở Kẹp hạt dẻ cùng đoàn múa quốc tế khi nó bằng tuổi con. Sau buổi biểu diễn, con bé đưa cho bố tờ liệt kê những món quà nó muốn trong dịp Giáng sinh, yêu cầu phải có ngay. Bố cất danh sách vào túi áo và bảo để sau.
Giá như lúc đó bố khéo léo hơn, giá như ngay từ đầu bố cương quyết trong việc uốn nắn chị con thì chuyện đó đã không bao giờ xảy ra…”

        “Con không hiểu.” Dũng lắc đầu, thằng bé lại bẻ tay và co rúm người.

        “Bình thường nếu không được chiều ý thì Thu đã giãy nảy lên rồi, nhưng hôm ấy con bé im lặng. Bố tưởng nó đã lớn và cuối cùng cũng hiểu được thế nào là đúng sai, bố định sẽ đưa chị con đi mua quà vào sáng hôm sau. Nhưng bố không thể mua, mãi mãi không mua được. Bố tỉnh dậy khi nghe thấy tiếng mẹ con khóc, mẹ con quỳ bên giường Thu, cầm lấy tay con bé lạnh ngắt.
Chị con tự vẫn bằng thuốc ngủ, khi mà nó mới mười bốn thôi! Lúc đó bố không nghĩ gì cả, chỉ lấy mảnh giấy đêm qua ra xem con bé muốn gì, bố mới điếng người nhận ra rằng đó không phải là danh sách mua quà, mà là một bức thư tuyệt mệnh. Nếu lúc ấy bố đọc được những dòng chữ của nó, có khi chị con đã không phải chết…”

        Câu chuyện của người bố bị gián đoạn khi ông phát hiện ra con trai hoảng tới mức tự làm nó đau. Ông ôm lấy vai nó, làm theo những gì chuyên gia đã dạy. Dũng hít thở chậm dần và bình tĩnh trở lại.

        “Đáng ra bố không nên kể cho con nghe chuyện này. Hôm nay không phải tập đàn nữa, con về phòng đi.”

        Nghệ sĩ dương cầm quỳ gối dưới đất, trán tì trên mặt bàn, hai tay siết lại và cắn môi mà khóc. Dũng vòng đôi tay ôm lấy bố.

* * *

        Mười năm trôi qua là mười năm chị P cảm thấy mình như sống trong địa ngục. Ai mách chị chùa nào thiêng, thầy nào làm phép tốt, chị đều không ngại đường xa mà tới thành tâm cầu phước. Số tiền tiết kiệm được chả mấy chốc mà cạn nhưng tình hình của N chẳng có vẻ gì thuyên giảm. Chị không biết xoay sở như thế nào với thằng con “thần kinh”, đành chấp nhận rằng ông trời đã ép phải như thế. Không có người dạy bảo, N ngày càng trở nên hoang dã hơn. Thằng bé phá phách đồ đạc mỗi khi buồn chán, xé quần áo, cắn rách tiền của mẹ, bốc trộm thức ăn chẳng kiêng dè, gào rú và tự đánh bản thân khi bị mẹ quát, thản nhiên phóng uế bừa bãi khắp nhà của gia đình chủ. Vì thằng N, mẹ nó đã mất việc.

        Một mùa đông nữa lại trôi qua, và lần này bệnh viêm phổi của thằng N tái phát. Tại băng ghế chờ tại bệnh viện, N chẳng khác gì một đứa trẻ lớn xác đang ngồi nhìn mãi vào bàn tay múa may của chính nó. Một người mẹ cũng đưa con đi khám ở gần đó trông thấy thằng N, rụt rè hỏi:

        “Con của chị có bị tự kỷ không?”

        “Tự kỷ? Tự kỷ là gì? Tôi chỉ biết nó đang chết rét thôi.” Chị P đáp, đưa đôi mắt thâm quầng nhìn người đàn bà bên phải.

        “Chị có thể đưa con mình tới viện ABC hoặc các trung tâm phát hiện. Họ có những bài kiểm tra để đánh giá xem đứa trẻ có phải tự kỷ hay là mắc chứng bệnh khác. Cái bệnh này phát hiện sớm còn may, chứ để muộn thì…” Bà mẹ ấy thở dài. “Thời buổi này nhiều trẻ bị tự kỷ lắm, tôi cũng không hiểu tại sao nữa!”

        Màn hình trên tường hiện số 35, đã tới lượt thằng N khám. Chị P kéo con trai đứng dậy, đẩy cửa dắt nó vào trong.

        Tự kỷ! Kiểm tra đánh giá? Phát hiện sớm còn may?
Tiền đâu ra? Ai giúp chị P? Ai cho chị biết điều này mười mấy năm về trước đi?

        Trở về ngôi nhà tuềnh toàng, bẩn thỉu; người mẹ ngồi thụp xuống giường, nước mắt lưng tròng nhìn thằng con giời đày. Bơ vơ, đói rét, những cơn u uất năm xưa lại trở về với chị P. Chị nghĩ tới một ngày mình già nua ốm yếu, thậm chí là qua đời, và thằng N chẳng có ai chăm sóc. Thằng N nên chết đi cho rồi! Một hôm chị mải làm việc và sơ sảy, thằng N sẽ chạy ra ngoài đường, một cái ô tô lao tới, vĩnh viễn kết thúc mọi sự đau khổ cho hai mẹ con — chị P đã đôi lần vẽ ra viễn cảnh ấy, rồi lại tự nguyền rủa bản thân là đồ máu lạnh. Đứa con đáng ra phải là niềm hạnh phúc của bố mẹ, nhưng thằng N chẳng là gì ngoài gánh nặng, thứ tội nợ kìm hãm cuộc đời chị P. Chị ngẫm lại rồi, mọi sự bi đát đều từ nó mà ra. N là lý do khiến chồng chị bỏ đi, lý do khiến chị mãi nghèo hèn không thể ngẩng mặt với mọi người!

        Thế là chị đánh nó. Lần đầu tiên trong đời, chị đánh nó. Thằng N nép mình trong xó nhà, mặt tái xanh như tàu lá, khóc gào thảm thiết. Chân tay nó run bần bật, cố ngăn những cú đánh của mẹ nó trong vô vọng. Chị P đánh bằng tất cả mọi thứ hiện diện trước mặt: cái bát, cán chổi, vòi nước cái ghế, cái bàn… Vừa đánh, người mẹ vừa xả ra những từ ngữ mà chỉ có những kẻ mạt hạng đầu đường mới dùng với nhau. Chị chửi con lạc cả giọng, đánh nó mà người tứa hết mồ hôi, đánh tới khi thằng N không thể hét lên được nữa. Thằng N nằm ngất dưới đất, mắt nhắm nghiền, khắp người đầy máu.

        Thằng N đã chết? Chị P òa khóc, hốt hoảng lùi lại. Chị đã giết chết đứa con duy nhất của mình chỉ vì một phút yếu đuối mà để lòng căm thù chi phối. Giết người là sai rồi, giết con lại càng không thể tha thứ. Loại mẹ ác quỷ nào đi hại chết con ruột của mình chứ?

        Sâu thẳm trong trí óc người mẹ, hình ảnh cây cầu với dòng sông chảy xiết năm xưa bỗng hiện lên sao mà thật rõ nét.

* * *

        Sau đám tang đứa con gái đoản mệnh, cặp vợ chồng thất thểu tìm tới phòng nó dọn dẹp, những mong có thể tìm thấy chút manh mối nào đó giúp họ hiểu được vì đâu mà Hoa Thu lại quyết định tìm đến cái chết, hoặc chí ít là kỉ vật nho nhỏ mang ý nghĩa an ủi. Họ xếp sách truyện của con bé vào một giỏ, giỏ kia đựng những đồ nhỏ như lược, gương, trang điểm… Nhưng còn điện thoại và máy tính của con bé? Họ nên bán đi, hay giữ lại và mở ra xem?

        Người mẹ chỉ muốn đập nát cái điện thoại, quăng luôn máy tính xách tay vào thùng rác; còn bố Hoa Thu chỉ biết gập máy mà thở dài. Những dòng tin nhắn gửi qua lại giữa Thu và lũ bạn trên mạng của con bé; những bài viết lâm li bi đát về “sự đẹp đẽ” của cái chết từ các bloger ăn mặc như lũ ngáo ộp, về việc kết thúc mọi nỗi đau khổ chỉ bằng một đường rạch tay, một lọ thuốc ngủ và bạn sẽ mãi mãi trẻ đẹp… Thu luôn than thở cuộc sống chẳng như ý; rằng bố mẹ chẳng hiểu nó, chẳng hiểu những nỗi buồn vu vơ và lạc lối nó ngày ngày phải chịu đựng. Chỉ cần một vài đường link, một vài dòng chat đánh đúng vào tâm lý đứa trẻ mới lớn, Thu đã tưởng rằng cả thế giới này đều chống lại nó, và những người thân yêu duy nhất nó tin tưởng được lại không phải cha mẹ, mà là những người bạn chẳng bao giờ nó biết tên biết mặt – những kẻ đã xúi Thu chết, cũng chẳng tới đám tang con bé gửi lời tiếc thương.

        Thu dại dột quá! Tình trách con, cũng là tự trách mình. Lỗi đâu thuộc về mình nó khi mà Tình đã cùng vợ làm hư con bằng sự dư thừa vật chất, coi thành tích múa balê là thứ để dung túng cho sự hỗn xược, rồi đột ngột bắt Thu phải chấp nhận rằng mọi thứ không phải lúc nào cũng chiều theo ý nó. Đâu phải Tình chưa từng hỏi chuyện con, nhưng cứ mỗi lần anh muốn cởi mở thì con bé lại quát vào mặt bố mình, chẳng thèm đếm xỉa xem điều tiếp theo bố muốn nói là gì. Trông ánh mắt đờ đẫn và mùi khói thuốc trên người con bé, anh mắng nó. Thu đổ lỗi cho bố vì đã hủy hoại sự nghiệp của mẹ, nên bà mới ép nó thực hiện những giấc mơ còn dang dở. Những lúc Thu cãi nhau với bố rồi đóng sầm cửa phòng và nhảy lên giường lướt mạng, Tình tự hỏi vì đâu mà nó lại tuôn ra những lời như thế. Nó muốn làm bố mình tổn thương hay còn mục đích gì sâu xa hơn?

        “(…) Chính bố là người đã đẩy con tới bước đường này! Và nếu bố không đọc những dòng chữ, thì tự bố đã chứng minh rằng mọi sự quan tâm bố dành cho con đều chỉ là giả dối. Đã vậy thì tôi phải chết! Tôi không cần gì hết ngoài sự bình yên vĩnh hằng!”

        Không lâu sau đó, người bố cảm thấy không thể giữ nỗi đau và niềm trăn trở trong im lặng thêm được nữa. Anh tìm tới mẹ con bé – trên tinh thần xây dựng và bình đẳng. Tình kể với vợ về những lần bố và con gái cãi nhau, và anh day dứt ra sao vì đã không thể bảo vệ được con bé. Thương không cần phải nói gì cả, tất cả là lỗi tại anh. Anh muốn cô tha thứ, hãy cho anh cơ hội được sửa chữa.
Trước những giọt nước mắt của chồng, người vợ hất cao cằm, hơi ngả lưng ra ghế và nở một nụ cười nửa vời trên khóe môi.

        “Cả đời này anh có quỳ rạp dưới chân tôi cũng chẳng thể gột hết được tội lỗi. Nợ máu thì trả bằng máu, anh có dám nói lời tạm biệt với sự nghiệp của mình không?”

        Tình điếng người, không thể tin nổi những điều vừa rồi lại phát ra từ vợ mình. Cựu á quân Helsinki năm xưa đã ra giá với người top 5 cuộc thi Chopin, thậm chí cô ta còn không rơi một giọt nước mắt khi anh nhắc về con.

        Cặp vợ chồng tìm đến những chuyên gia trong lĩnh vực thụ tinh nhân tạo với hy vọng niềm vui nhân đôi – hai đứa con để tiếp nối những ước nguyện đã bị chôn vùi của cha mẹ chúng.

* * *

        Vào một buổi sáng sớm mùa đông, nhân viên dọn vệ sinh cùng vài cư dân khu vực bờ sông phát hiện thi thể một người phụ nữ trôi dạt. Không ai biết được chị ta tên gì, nhà ở đâu, có họ hàng thân thích hay không.

        Đâu đó, tại một khu phố nhỏ bẩn thỉu, lũ trẻ con vẫn hay chỉ trỏ cười đùa một nam giới suốt ngày đi lang thang trên đường với bên vai trái vẹo hẳn xuống vì dị tật. Chúng cười vì anh ta chẳng biết nói, cứ vật vờ đi lại như bị ma nhập, vừa đi vừa giậm chân, hai tay múa với nhau, cổ họng phát ra những tiếng “Ơ… ơ…”

        “Thằng điên đấy con, cẩn thận nó đánh bây giờ!” Người lớn ở đây vẫn thường hay mắng lũ trẻ như thế. Họ mắng vì sợ, dù cũng thấy hơi tội cho thằng điên lang thang. Có nhiều lời đồn đại về gia đình nó, người cho rằng bố mẹ nó bị bệnh hoặc tai nạn nên chết hết rồi; người cho rằng bố mẹ nó sinh phải thằng con thiểu năng trí tuệ nên đã bỏ nó để đến với gia đình mới… Giả thuyết nhiều đấy, nhưng chẳng ai chứng thực được cả. Thằng lang thang vẫn ăn mặc rách rưới, đi tha thẩn khắp nơi và bới rác tìm cái ăn sống lay lắt qua ngày.

* * *

        Đã nhiều năm trôi qua rồi kể từ ngày Dũng biết được trước mình có một người chị gái múa balê, anh cũng không còn hay biết nhiều về gia đình ngoại trừ cái tin bố mình đã qua đời năm ngoái, an hưởng tuổi bảy mươi tư – được thông báo tại một khung nho nhỏ trong tạp chí chuyên ngành.

        Dũng đã dành hết tuổi thanh niên để lấy tấm bằng Thạc sĩ Văn học và Cử nhân Tâm lý học, chẳng có chút gì dính dáng tới âm nhạc. Anh vừa mới nhận nốt chứng chỉ sư phạm, thứ mà Dũng cho là quý giá nhất cuộc đời — tất nhiên là bên cạnh tiền bạc, nhà cửa, và sức khỏe của Dũng ra.

        Hàng ngày, Dũng tới gặp lũ học sinh ở trường với nụ cười và những bộ trang phục màu xanh lá giống hệt nhau. Anh quý những người bạn trẻ vô cùng. Tuy nhiều đứa vô trách nhiệm, lười biếng và liều lĩnh hơn đám học trò thời Dũng nhiều, nhưng ở chúng có sự rộng mở của những công dân hiện đại. Chúng chấp nhận Dũng, chấp nhận việc có một người thầy sở hữu mái đầu không cần nhuộm vẫn đỏ, và thỉnh thoảng bức xúc chuyện gì là thầy lại bẻ tay và co ro khóc trong xó lớp. Hoặc cũng có thể chúng không dám bắt nạt thầy, vì thầy của chúng có cái lườm nguýt ghê như mắt loài diều hâu.

        Nhiều người hỏi Dũng bao giờ mới được nhận thiệp mời, anh chỉ cười trừ và trả lời rằng “Chắc để sau chuyến du lịch Ba Lan”. Có vài lý do để Dũng trì hoãn việc lập gia đình, số lượng chắc cũng ngang với lý do đã khiến anh không trở thành một nghệ sĩ dương cầm.

        Hôm nay là một ngày Chủ nhật đẹp trời, Dũng ra ngoài hít thở không khí trong lành, cũng muốn tìm mua vài đĩa nhạc lưu những bản độc tấu piano nổi tiếng, gọi là chút gì đó để nhớ về tuổi thơ. Cuộc sống hiện đại nhiều tiện nghi cũng tốt thôi, nhưng Dũng cảm thấy những loại walkman kĩ thuật số hay mp3 ipod cứ thiêu thiếu thứ gì đó. Các cửa hàng bán đĩa than bây giờ gần như lặn tăm hết, thật may mắn vì Dũng còn mò ra được địa điểm cuối cùng này. Đứng trước cửa tiệm, Dũng tự hỏi liệu trong tương lai, công việc kinh doanh nơi đây có còn thuận lợi. Bác chủ già yếu sẽ đóng cửa nghỉ ngơi, bàn giao lại cho con cái (hoặc ai đó), hay buộc mình chuyển đổi hình thức kinh doanh? Dũng không bao giờ biết được.

        Dưới mái hiên của tiệm đặt một cái máy loa kèn bên giỏ đựng xấp đĩa nhạc để mọi người đi qua đều có thể thưởng thức. Dũng nhận ra ngay bản nhạc chậm rãi và réo rắt này – bản dạ khúc số 9 của Chopin anh vẫn hay nghe hồi nhỏ. Khúc nhạc hiện đang ở hồi số 2, Dũng hít một hơi thật dài, thả hồn mình trở lại làm một cậu bé năm tuổi luôn nhạy cảm cực độ trước mọi âm thanh. Cậu đã cùng bố học đàn, học cách sống chung với hội chứng tự kỷ, và quan trọng hơn cả: cách để Dũng yêu mến bản thân mình, biết rằng cậu không phải “thằng dở hơi”, không lớn lên trở thành một đứa thiểu năng ăn bám vô dụng như người ta nói.

        Cảm giác có ai đó đang ở sau mình, Dũng quay đầu. Một cậu thanh niên rách rưới, bẩn thỉu, với đôi vai vẹo đang nhẹ nhàng xoay tròn. Dũng nhìn cách anh bạn ấy tay phải vươn cao bẻ ra trước mặt, tay trái hạ thấp ngang hông. Tiếng đàn đệm theo từng bước chân cậu nhún nhảy nhịp nhàng. Cậu ấy trông như một diễn viên múa ngây ngốc, tàn tạ và vụng về.

– – – – – – HẾT TRUYỆN – – – – – –

Thành Viên

Thành viên online: Tiến Lực Nghi Đình Linh Lung Du Nhiên Lâm Nguyệt Ân Nhật Vũ quý lê kiều chi cố phươcloj phạm Le Hau Store Owen và 1.514 Khách

Thành Viên: 72.689
|
Số Chủ Đề: 10.409
|
Số Chương: 30.301
|
Số Bình Luận: 125.756
|
Thành Viên Mới: Trang Thuy Vuong