Hẻm núi Phục Ba, cửa ngõ trước khi tiến vào lộ Bắc Giang.
Hai mươi ba ngày sau khi rời khỏi Hoa Lư, đoàn xe chở Trần Thành bị mấy trăm người chặn lại nơi này.
Phải đến chín phần trong số họ là dân Mộc Sơn, nơi lập nghiệp đầu tiên của Đức ông Bảy. Số còn lại là những vị tráng sĩ hào sảng, vì cảm phục tài đức của Đức ông mà đứng ra lãnh đạo những người còn lại. Dân phong ngang ngược ở nơi này cũng vẫn như vậy, rất đỗi hào sảng mà cũng rất đỗi đáng yêu, thật xứng với câu hát “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
Đức ông Bảy, đó là tên mà dân chúng trong vùng dành cho Trần Thành, người đã trấn thủ vùng Mộc Sơn suốt chín năm. Phải biết rằng, một vị quan triều đình phải được tôn trọng đến mức nào mới được dân gọi là Đức ông. Hai từ ấy bao hàm tất cả lễ kính, thân thương và yêu quý của những kẻ tầng lớp bên dưới, dành cho vị quan phụ mẫu của họ.
Ngày Đức ông mới chân ướt chân ráo đến đây làm một vị huyện quản, không những đã ra tay dẹp bỏ đi nạn nhũng nhiễu dân chúng của đám lại bộ dưới quyền mà còn mấy lần đích thân dẫn đầu bọn họ cứu trợ thiên tai. Đợt mất mùa nặng năm Ứng Thiên thứ hai, chính ông đã vội vã về kinh dâng biểu xin mở kho lương cứu trợ, nhờ đó cứu sống không biết bao nhiêu gia đình vùng Mộc Sơn.
Cho đến khi ông trở thành thủ phụ của lộ Bắc Giang, nắm quân quyền trong tay. Trong ba năm Đức ông đã liên tục phát lệnh điều quân đội Đông Bắc về trừ tiệt đám giặc cướp, vốn thường hoành hành trong các hẻm núi vắng vẻ vùng đất sát biên cương.
Lại cho tuyển mộ bọn thợ giỏi sửa sang cầu đường, mở thêm nhiều bãi chợ để thông thương giữa Đại Tống và Đại Cồ Việt, khuyến khích thương nhân hai nước qua lại buôn bán. Chỉ trong mấy năm ngắn ngủi, đời sống của dân nghèo vùng biên này đã tốt hơn trước rất nhiều. Cảnh đường hoang vạ vật xác người mấy năm chiến loạn cũng chẳng còn nữa.
Những ân đức đó, dân chúng luôn ghi khảm trong lòng. Triều đình quá cao xa, bọn họ chẳng thể biết đến đó, chỉ có những vị quan thân dân như Đức ông Bảy gần như đã trở thành một huyền thoại bất khả xâm phạm.
ooo
Mỗi khi việc quan rỗi, Đức ông cũng thường hay ra nghỉ ngơi ở gian nhà mát trên một ngọn đồi vô danh. Nơi này nằm cách làng An Xá trong lộ Bắc Giang chỉ hơn nửa ngày đường, trên con đường vạn lý sang biên giới Trung Quốc.
Khi đức ông nhận được lệnh vua hồi triều làm quan trong kinh, hương lão các xã trấn quanh vùng đã xin phép được đặt tên cho ngọn đồi bằng chính tên của ông. Kể từ độ ấy, ngọn đồi gần như đã biến thành một nơi cấm kỵ bí ẩn, không một ai dám tỏ ra bất kính. Cỏ mọc trên đồi đã xanh tốt bời bời, thế nhưng tuyệt nhiên không có một mục đồng nào lùa bầy gia súc đến đây.
Không biết từ lúc nào, tin tức Đức ông Bảy bị hạ nhục, phải chịu dẫn độ đã bay đi khắp Mộc Sơn. Đám dân chúng trong vùng thoáng chốc vô cùng phẫn nộ. Dân phong vùng biên cương vốn cương liệt không thuần, chỉ lệnh triều đình với họ mà nói thì chẳng có bao nhiêu giá trị.
Ban đầu chỉ là một cuộc tụ tập để chào đón Đức ông về vùng đất cũ. Thế nhưng sau khi bọn lính triều đình dàn ngang thanh giáo trong tay, quật ngã một vài kẻ to gan lớn mật nhất, thì cơn gió của sự giận dữ bắt đầu thổi cao lên, lan đi như một đợt sóng trào.
Xung đột bùng nổ, chỉ thoáng cái đã biến thành trận chiến một sống một còn.
Mặt Trần Thành bên trong cổ xe tù tái mét. Chỉ có sự trấn định bền bỉ, vốn được uẩn dưỡng từ bao nhiêu năm lăn lộn trong chốn triều đình, mới có khả năng kiềm chế ông ngồi yên một chỗ. Thế nhưng đôi bàn tay trên đùi đã nắm chặt đến lộ cả những đường gân xanh ngoằn nghèo.
Dưới sàn xe là một quản bút đã gãy ra làm đôi.
Phía bên ngoài, Hổ vẫn thản nhiên ghìm ngựa đứng sát vào cổ xe, ánh mắt lạnh băng không ngừng sục sạo trong đám loạn quân. Y muốn tìm thật chính xác con mồi của mình.
ooo
“Tất cả xông lên” – Người thủ lĩnh còn rất trẻ vung cao thanh trường kiếm, hét lớn. Đó là một trong những vũ khí ít ỏi mà họ có thể tích cóp được ngay tại chỗ, bên cạnh những nông cụ thường ngày.
Đám nông dân gầm lên đáp lời, lại một lần nữa chen vai thích cánh đánh ập vào hàng ngũ phòng ngự của lính triều đình. Hàng đầu tiên đã nhanh chóng tiếp cận vào đám giáo mác đang giương ra tua tủa, hoàn toàn phủ định mọi quy tắc tấn công, đơn giản chỉ là lấy thịt đè người.
Những năm chinh chiến liên miên đã đúc nặn ra cho Đại Cồ Việt rất nhiều đội quân thiện chiến, được trui đi rèn lại trong sắt máu bốn phương. Khí thế hung hãn của đám nông dân trước mặt giống như mấy cơn gió thổi cát trước cửa nhà, chẳng hề làm họ nao núng chút nào.
Bọn họ hô lên một tiếng, hàng ngũ liền xiết lại một vòng. Một vòng thép lạnh sừng sững giữa trời đất, ngăn cản tất cả mọi gió táp mưa sa.
Mỗi một lần ngọn giáo trong tay đâm ra rút vào, lại có một hàng người ngã dúi dụi xuống đất.
Máu tươi đã bị cơn mưa tầm tã rửa trôi nhanh chóng, thấm xuống đất bùn thành một bãi lầy sền sệt. Nhất thời chiến trường biến thành một cảnh mờ mịt hỗn loạn, hai bên quấn riết lấy nhau mà đánh, tranh giành từng chút từng chút lợi thế.
Đội quân nông dân không chỉ có dân chúng chân lấm tay bùn, cả đời chỉ biết sấp ngửa với cày cuốc. Đứng đầu bọn họ chính là những tráng sĩ giang hồ.
Ba vị thủ lĩnh đã đột phá qua hàng ngũ của đám lính triều đình chặn phía trước, vây chặt lấy tướng quân Hổ. Ba lưỡi kiếm sắc trong tay họ, đan thành một lưới kiếm dày đặc chụp về phía y, phả ra hơi lạnh thấu tâm can.
Anh em họ Phạm và Tề thiên Đại bàng Châu Trì, đều là những cái tên có chút danh tiếng chốn giang hồ, vũ công cũng xem là hạng cao cường. Lấy một đấu một với Hổ thì có thể họ sẽ thất bại nhanh chóng, nhưng hợp sức vây công thì có hy vọng cầm chân được y một thời gian.
Chỉ cần cầm chân và phân tâm được tên tướng quân áp tải này thì họ sẽ có hy vọng đột phá được hàng rào phòng ngự của quân triều đình, giải cứu cho Đức ông. Dù sao thì số người hiện tại của họ vượt gấp mấy lần số quân lính triều đình. Niềm hy vọng đó, dù rất đỗi nhỏ nhoi, khiến kiếm thế của họ dày thêm mấy phần lăng lệ.
Đám thân binh vốn quá rành rẽ tính nết của tướng quân nhà mình. Cặp mắt y đã vằn vện nét bạo ngược từ khi bắt đầu giao tranh, đến giờ lại bùng ra một ánh sáng lạnh người. Đó là thứ ánh sáng lập lòe hung tàn, đẫm máu, sẽ thiêu rọi mọi thứ mà nó chiếu qua.
Chỉ nghe Hổ quát lên một tiếng, gót chân thúc vào bụng con ngựa khoang một cái. Con ngựa thần dũng hý lên một tiếng phụ họa chủ nhân, sải vó vọt tới. Ngọn giáo trong tay y vung ngang, ỷ vào kình lực hùng hậu mà trực tiếp đánh qua lưới kiếm, không ngờ lấy một chọi ba.
Chỉ nghe choang choang mấy tiếng vang rền, tay kiếm mấy người bọn Châu Trì đều cảm thấy tê rần, suýt nữa đánh rơi vũ khí. Sức mạnh của vị thiên tướng ấy quả thật quá kinh khủng.
Cán giáo tre trong tay y vừa hung mãnh vừa mềm mại, lúc thì quét ngang bổ dọc như núi đổ, lúc thì uốn éo như linh xà phá không. Đầu giáo liên tục điểm tới bằng những phương vị kỳ lạ, ép ba kẻ giang hồ vào thế phòng ngự, không làm sao tiến lại gần được nữa.
Mặc dù lấy một chọi ba mà khí thế Hổ vẫn tỏ ra ung dung nhàn nhã. Con ngựa khoang vốn theo chủ chinh chiến đã lâu nên tràn đầy thông minh linh tính, khéo léo quay mình dựa vào một bên sườn núi, giúp cho y chỉ cần chuyên tâm đối phó một mặt đằng trước. Hổ Nha chiêu chiêu tuôn trào, lúc như dương liễu trong gió, lúc lại tựa biển động sóng trào.
Bấy giờ bên phía chiến trường chính, quân đội với ưu thế kỷ luật và hàng ngũ vững chắc vẫn không bị phá vỡ, giáo ngạnh trong tay nhịp nhàng đâm ra thu vào. Mỗi lần đâm ra là móc lấy một người kéo về, sau đó dùng trường đao chém ngã tại chỗ. Đám nông dân chỉ có hào khí chống đỡ tới lúc này, chật vật cố giữ vững đội ngũ, nhưng có thể thấy nếu kéo dài thêm nữa tất sẽ thất bại.
Châu Trì huýt lên một tiếng sáo miệng cực kỳ vang dội, lồng lộng bao phủ cả chiến trường.
ooo
Trong cả ba thủ lĩnh của lần hành động này, Châu Trì là người lão thành trì trọng nhất, vũ công cũng cao cường nhất. Từ lúc vạch ra kế hoạch cho đến khi bày binh bố trận đều do một tay lão xếp đặt. Mắt thấy cả hai đường tấn công đều sắp đổ bể, lão liền quyết đoán tung ra kế hoạch cuối cùng.
Hai anh em họ Phạm nghe tiếng huýt sáo ấy liền triển khai một kiếm trận nho nhỏ, khoá chặt ngọn giáo của Hổ tướng quân lại. Kiếm trận của họ tuy đơn giản mộc mạc, nhưng hàm ý trong đó lại bắt nguồn từ thái cực.
Thái cực có âm, chủ về nhu triền, trộn lẫn với dương, chủ về hung mãnh. Bất kỳ một môn vũ công nào mang hàm nghĩa Thái Cực bên trong thì đều đã bắt đầu chạm đến đạo của trời đất.
Trời đất mênh mang, âm dương vốn là lề lối, vạn vật sinh thành đều từ lề lối này mà phát triển. Kiếm ý trong kiếm trận này vừa bộc lộ ra thì quả thật cũng mênh mang rộng lớn như trời đất vậy. Mặc dù trong tay anh em họ chỉ thi triển được một phần rất nhỏ của kiếm trận này, vậy mà cũng đã dồn ép được ngọn giáo của Hổ tướng quân xuống.
Châu Trì nhân cơ hội đó tung người nhảy lên cao mấy trượng. Thân hình tráng kiện của lão vươn ra như cánh chim ưng, trường kiếm rạch thành một đường lấp loá chém xả xuống. Ngoại hiệu của người này trong giang hồ là Tề Thiên Đại Bàng, khinh công cực cao, dáng vẻ khi nhảy lên cũng rất hào hùng đẹp mắt.
Hổ trông thấy lão từ trên bổ nhào xuống, ngọn giáo vẫn đang nhùng nhằng chưa bứt ra được, liền đấm ra một quyền tay trái. Quyền kình từ tay y tụ thành một khối, xé toạc màn mưa tầm tã đập thẳng lên nghênh đón chiêu kiếm của Châu Trì, khí thế nghiêng trời lật đất.
Châu Trì nhẹ nhàng nghiêng bản kiếm trong tay, áp vào quyền kình của Hổ.
Chỉ thấy thân hình ông ta khẽ uốn một vòng, nương lực nhảy vọt bắn về phía sau, nhìn quả thật như một con chim lớn vọt lên. Một viên đạn sáng được lão móc ra từ trong ngực áo, ném đến giữa lưng chừng trời thì nổ tung ra.
Quầng sáng rực rỡ loé lên giữa đất trời đang cơn mù mịt, tựa như con phụng hoàng ánh sáng rạch mây bay vọt lên, mỹ lệ hào nhoáng vô cùng.
Theo sau đuôi sáng ấy là một dòng kiếm tuôn trào như thác đổ, lấp lánh như những con cá bạc. Một đội kiếm sĩ mấy chục người từ phía sau một ngọn đồi thấp rùng rùng kéo ra, chiến ý tỏa lên ngất trời.
Giữa lúc này thinh không giáng xuống một tia sét soi sáng cả chiến trường, kéo theo một tiếng sấm vang động như tiếng trống trời, tựa hồ trợ oai cho những kẻ mới tới. Đội kiếm sĩ trong tiếng sấm ầm ầm ấy vung cao trường kiếm tuốt trần, phản chiếu ánh sáng lấp loá, chỉ mấy chục người mà khí thế sánh ngang với thiên quân vạn mã.
Bọn họ là tráng sĩ giang hồ, từ khí thế đến đội ngũ, từ vũ công đến binh khí đều cách biệt rất xa với đội quân nông dân.
Trong nháy mắt, chiến trường bùng nổ một tiếng gầm kinh hồn, đám nông dân như mạnh mẽ lên mấy phần, quấn chặt lấy đội quân triều đình. Chỉ qua một lúc, đã có rất nhiều quân lính bị đánh chết, tác hại của việc ít người bắt đầu hiện ra, đội hình phòng thủ thủng lỗ chổ khắp nơi.
Mà Châu Trì khi ấy đã nhân cơ hội vọt qua khỏi phòng tuyến của đám thân binh, vội vã lao về phía xe tù. Hai anh em họ Phạm ha hả cười lớn, hợp sức đánh dấn vào, kiên quyết không cho Hổ quay về chiến trường chi viện.
Thắng lợi bừng lên trước mắt khiến cho kiếm của anh em họ linh hoạt hơn mấy phần. Thế nhưng khi nhìn vào ánh mắt của đối thủ, nhiệt huyết trong lòng họ bỗng dưng nguội đi mấy phần.
Ánh mắt ấy có giễu cợt, có khinh khi, có tiếc rẻ, thế nhưng tuyệt nhiên không có chút lo lắng.
Và một hồi tù và đột nhiên cất lên trầm trầm, vang vọng trên sườn núi Phục Ba. Giữa tiếng mưa rơi như thác đổ, tiếng tù và ấy nghe tựa tiếng gầm gừ giận dữ, lại phảng phất chút ý vị sát phạt hung tàn của quái thú thời viễn cổ.
Đám Châu Trì nghe hồi tù và trận mạc đó vang lên, bỗng nhiên cảm thấy một chuỗi ớn lạnh dấy lên trong lòng.
ooo
Hổ nở một nụ cười lạnh ngắt, ngọn giáo trong tay y lúc này mới hiển thị cái thực lực chân chính của nó.
Từng đoá từng đoá hoa nước nở bung trong màn mưa, cuốn theo sau là lưỡi giáo sáng lấp lánh.
Âm dương kiếm trận sát khí đầy trời, tưởng như đoạt quyền tạo hóa bất chợt bị đám hoa nước ấy hút vào, biến mất không hình không tích. Anh em họ Phạm hoảng sợ, nhưng đã trót ở thế đã rồi chỉ còn cách dồn ép nội lực liên miên bất tuyệt vào kiếm. Càng dồn ép càng cảm thấy nội lực mình như sông chảy vào biển lớn, không biết bao nhiêu mới là đủ. Trong một thoáng gương mặt họ tái xám lại, biểu hiện của việc hao tổn nội khí quá nhanh.
Gương mặt vị tướng quân càng lúc càng lạnh lẽo như phủ một tầng sương. Y đã thật sự nổi giận, sát khí toả ra dày đặc, ngọn giáo mớ lớn đóng lớn, bủa vây lấy đối thủ không chừa bất kỳ đường lui nào.
Một khi con hổ dữ ấy nổi giận, y sẽ không để ai được sống.
Tề thiên đại bàng Châu Trì vũ công cao cường là thế, vừa rồi đã đánh dạt bốn năm trên thân binh để tiến sát tới cổ xe tù. Thế nhưng giờ này như bị một đám bùn quấn chân, bất kể khinh công lão cao cường đến mức nào cũng không thể bứt ra được. Đám thân binh đã kết lại thành một tấm lưới vô cùng chắc chắn, đừng bước từng bước bao xung quanh lão.
Ở chiến trường bên kia.
Hồi tù và vừa dứt, trên cao điểm bên sườn núi Phục Ba có một đội cung thủ hiện ra. Người cầm đầu bọn cung thủ là một lão giám quân mặc áo nâu, dáng vẻ quắc thước nghiêm nghị. Lão phất lá cờ vàng trên tay, một làn tên dày đặc liền rải xuống đám kiếm sĩ đang áp sát vào đội hình phòng ngự của quân đội. Tuy bọn kiếm sĩ đều cảnh giác huơ kiếm chống đỡ, nhưng trong lúc trời đất u ám khó trông thấy rõ này, cả chục người liên tiếp bị trúng tên ngã lăn ra.
Người đứng đầu đám kiếm sĩ phản ứng cực nhanh, y huýt sáo ba tiếng, tức thì có một đội chừng ba mươi người tách ra, truy sát bọn cung thủ trên sườn đồi.
Khoảng cách từ ngọn đồi nơi bọn họ mai phục đến chân núi không ngắn, lúc họ vượt qua được khoảng cách đó thì đám cung thủ đã kịp bắn hơn mười loạt tên, loại thêm khỏi vòng chiến gần hai mươi người. Dù là như thế thì mười kiếm sĩ khi áp sát lại vẫn đủ sức giết sạch số cung thủ gấp bốn lần mình.
Thế nhưng sự đáng sợ chân chính, lại không phải là bọn cung thủ.
Tiếng ngựa hí dài vọng tới cùng với tiếng vó ngựa gõ ầm ầm. Vó ngựa kỵ binh là tiếng trống trận hùng mạnh nhất trên chiến trường, nó khiến quân địch tan rã quyết tâm chiến đấu, nó giúp quân ta hùng mãnh thêm mấy phần.
Đó là tiếng trống của trời. Tiếng trông vô địch.
Một toán kỵ binh hơn hai mươi người từ hẻm núi xông ra, đi đầu là một viên tướng trẻ khoác chiến giáp đỏ rực.
Cơn mưa đang tuôn trào như thác bất chợt ngừng lại, cũng đột ngột như lúc nó kéo tới vậy.
Bầu trời đang ảm đạm mờ mịt bỗng trong thoáng chốc sáng bừng lên, ráng hồng kéo dài thành một dòng sông lửa, mênh mang không biết kết thúc ở nơi nào.
Viên tướng ấy tóc dài xoã bay tán loạn, ngọn thương trong tay hoa lên thành một vầng sáng bạc. Con chiến mã lông hung hí dài đầy dã tính, cuồng loạn phi như bay.
Điểm đỏ rực ấy như một ngọn lửa chói lọi đầy hung hãn, như bắt đầu từ trời đất hồng hoang thuở xa xưa kéo đến nơi này, thiêu đốt tất cả những gì trên đường nó đi qua. Đám kỵ binh theo sát sau lưng y như hùm như gấu, kết thành một đội hình nhọn hoắc xộc thẳng vào đám kiếm sĩ đang xông tới.
Mũi nhọn ấy dễ dàng cắt đôi đội hình của bọn kiếm sĩ, dày xéo dưới chân ngựa không biết bao nhiêu là mạng người, cũng đồng thời cắt vào trái tim của bọn Châu Trì một nhát đao.
Từ khi bọn họ nhận được tin tức tướng quân Hổ tung nhiều nhóm quân binh giả, toả ra thành mấy đường, thì phải mất rất nhiều công sức họ mới tìm được đội quân chính. Hơn một trăm người mà thôi, lại đi theo con đường núi Phục Ba vốn khó đi nhất. Châu Trì và anh em họ Phạm đã tốn không biết bao nhiêu công sức tập trung một nhóm nghĩa sĩ liều chết mai phục ở đây, lại đến từng thôn từng xóm vận động những người nông dân chân chất đi giải cứu cho vị quan mà họ kính trọng.
Thế nhưng giờ đây họ chợt nhận ra cái kế hoạch tưởng như hoàn hảo, trong mắt những viên đại tướng dày dạn như Hổ thì không đáng lấy một đồng chinh. Y đã tương kế tựu kế sắp đặt một cái bẫy để một lần hốt trọn bọn họ.
Cái bọn vũ sĩ chỉ biết tranh chấp trên giang hồ là họ đó, thật là quá đỗi non nớt ngây thơ.

