Trời bắt đầu lờ mờ sáng. Chẳng có gì âm u hơn cái khung cảnh này khi cái sáng không thực sự là sáng, cái tối cũng chẳng phải là tối. Nó chỉ cho ta chút ánh sáng đủ đề hình dung ra được một bức tranh phác họa mờ ảo hai bên đường với những nét bút cơ bản nhất: nền xám, cảnh đen, chẳng có được chút tươi sáng, trừ bên trong khoang tàu. Cái khung cảnh thế này nom còn lạnh gáy hơn một buổi tối om trời. Tàu đang đi qua một vùng vắng. Chẳng thể nhìn thấy gì hơn ngoài những tán cây khô khốc, trơ trụi hai bên đường. Cố giương mắt đi xa thêm chút, xa xăm là những cánh đồng hoang vu, bất tận, im lìm nằm giữa bóng đêm phiền não.
Những lo nghĩ về chuyến hành trình sắp tới khiến hai người dậy sớm hơn cần thiết. Nét mệt mỏi trong cả hai vẫn chưa dứt hẳn, dù vậy, họ đều đã tỉnh. Những lời thỏ thẻ tâm sự bắt đầu đánh thức không gian.
– Anh có chắc về quyết định của mình cho cuộc sống? Anh sẽ mất đi nhiều thứ lắm … – Agnes nhìn anh, ánh mắt lo lắng, nghĩ ngợi thay người tình.
Đáp lại những lời nhã nhặn ấy là một giọng rắn rỏi, dứt khoát như cái lúc mà người ta muốn khẳng định một chân lí:
– Anh vốn dĩ chẳng có thứ gì. Anh chưa từng có những gì mình muốn có, trừ em.
Darrel hơi khó chịu khi cứ phải trả lời những nội dung tương tự thế này dù Agnes chỉ muốn nghĩ cho anh. Cô sợ rằng cái tính bồng bột một thời của anh lại vùng dậy. Đơn giản là khi Darrel muốn chống đối một điều gì, anh cứ phải làm cho kì được, bất luận đến phút cuối cùng nhận ra đúng sai thế nào. Miễn sao thành công chống đối điều anh không mong muốn, anh coi như mình chiến thắng. Darrel thường không thích nghĩ nhiều, anh chỉ thích cảm. Lần này, anh chống đối cha mình. Agnes hi vọng tính thích chống đối của anh đã trưởng thành.
Darrel nhận ra thay đổi trên nét mặt người yêu khi anh căng thẳng.
– Anh không thuộc về nơi đó. Anh muốn mình thuộc về em. – Anh nhẹ nhàng ôm ấp người yêu – Agnes, thứ anh cần duy nhất là em, cuộc sống của anh chỉ cần em. Anh hạnh phúc, và anh chắc về điều đó.
Agnes bật cười. Darrel say đắm nhìn mắt cô. Đôi mắt đang cười đó vẫn giữ một vẻ nghiêm túc lạ thường. Cô choàng tay qua cổ người yêu, tựa tay vào lồng ngực. Cô luôn thích thú với cái ôm sau cổ thế này. Có lẽ vì cô cảm nhận được dòng chảy nóng bỏng trong người anh, nơi động mạch cảnh đang dẫn nguồn sống lưu thông khắp cơ thể. Cũng từ cái ôm này, tay cô tựa sát lồng ngực, nghe từng nhịp đập của con tim sôi sục ái tình. Khoảng cách giữa hai người được rút ngắn hết mức có thể khi một nụ hôn nồng cháy trao nhau ở tư thế này.
Cái ôm cổ cũng là một kỷ niệm đầy xúc cảm khi lần đầu tiên cả hai cảm nhận nhau trong một đêm mưa lạnh. Thể xác chỉ là thứ dung dị, vô hồn, cho đến khi nó được phần hồn sưởi ấm. Những đụng chạm xác thịt trở nên nóng bỏng, mãnh liệt khi hai người hòa quyện vào nhau.
Cũng trong đêm đó, cô phát hiện trên cổ Darrel một vết sẹo. Vết sẹo có từ khi anh sinh ra và đã bị lãng quên theo năm tháng bởi Darrel không thể tự mình soi thấy nó trong gương. Với những đụng chạm xác thịt, những vết tích trên người anh cũng hiển nhiên trở thành điều quen thuộc với Agnes. Sự tồn tại của nó là một phần của anh, cô quen nó như quen bàn tay anh vậy. Nó đã ở đấy từ khi con tim anh biết đập, và cũng vẫn ở đấy, trong cái đêm hạnh phúc đầu tiên.
.
Mặt trời bắt đầu lên. Cảnh sắc âm u, tĩnh mịch cũng bắt đầu tan dần vào những sợi nắng non. Trong căn buồng nhỏ trên khoang tàu, người ta khó có thể nghe được những thanh sắc bên ngoài, nhưng ít nhất, có thể cảm nhận được chúng: chim bắt đầu những tiếng lảnh lót, làm run rẩy những tán cây, chó thôi tru rú ghê tai và nhường chỗ lại cho tiếng gà gáy sớm, hoa cỏ ven đường vẫn còn đấm mình dưới những giọt sương,… đều là những thứ không hề có. Nơi đây là một vùng đất gần như hoang vu, những cánh đồng biệt ngàn trải dài xa tít thuộc về những trang trại càng ở đằng xa tít, và những cái xa tít kia được phủ đầy bởi làn tuyết trắng chắn ngang tầm nhìn. Ta chỉ có thể nhìn thấy những tàn cây trơ trụi đang yên giấc ngủ giữa mùa đông dài, chờ đợi một ngày nắng ấm đơm hoa, chờ đợi và chờ đợi, những chú chim nhỏ và bầy chó hoang cũng đang chờ đợi ở một nơi ấm áp hơn, chờ đợi một ngày tuyết tan quay về. Đó là cảnh một sớm bình minh, đẹp, nhưng u sầu.
Cái không khí lãnh đạm này làm con người thêm sầu não, dù đang trong giấc mộng hồng hạnh phúc nhất. Nó vô tâm tác động lên những suy tư vô thức của con người. Là khoảng lặng, nhưng có bình yên?
Agnes nằm trọn trong vòng tay Darrel. Ấm áp giữa cái khung cảnh lạnh lẽo bên ngoài. Cô khẽ đan xen những ngon tay mình vào tay anh. Agnes thoáng nghĩ đến thái độ ban nãy của anh. Có lẽ cô có phần quá đáng khi cứ nhắc mãi những điều như thế. Như thể cô chưa tin vào anh, cô không có chủ đích đó. Nhưng, dù sao đi nữa, chưa một lần anh hỏi cô những điều tương tự.
Anh thậm chí không cho cô cơ hội để cáu gắt. Chưa bao giờ anh hỏi cô về những thiệt thòi cô sẽ phải đánh đổi, dù có hay không. Có thể anh hiểu cô, anh tin cô, hay đơn giản do anh cảm thấy mình chỉ nhận được bức xúc từ những câu hỏi đó, và quên mất ý nghĩa của những lần đầu tiên – sự quan tâm. Sự quan tâm đó đã phản tác dụng, làm anh phát ngấy và quên cho đi những điều ngược lại. Agnes đắm người trong những dòng suy nghĩ, và liệu khi chết ngạt cô có hay biết mà tự cứu lấy bản thân?
Agnes tự hỏi, nếu anh cho mình cơ hội đề cáu gắt? – Cô là một con chim sẻ kém may mắn, cái may mắn duy nhất cô có được là khả năng thích ứng với đời, thích thú với mình. Tức là một con chim sẻ hoạt bát, nhanh nhẹn, dễ thích nghi và luôn lạc quan. Cô biết tự yêu lấy bản thân dù trong những cảnh khổ cùng nhất. Mục tiêu sống đầu tiên của cô là “sự sống”. Cô cần phải sống, và thoát khỏi cảnh khổ cùng từ cái xó xỉ vô danh của xã hội. Cô đã làm được, sự bền bỉ, kiên cường của một con chim sẻ giúp cô vượt qua tất cả.
Nhưng cuộc sống yên ả không phải là lý tưởng trong một Sparrow mạnh mẽ. Cô theo đuổi những ước mơ của mình. Cô đi tìm hạnh phúc vì cô biết nó chẳng tự đến với một ai. Mạnh mẽ và mơ mộng. Lần này, cô từ bỏ tất cả, theo đuổi một niềm vui mới – hạnh phúc lứa đôi. Cô không cho là thiệt thòi khi từ bỏ cuộc sống yên bình, ổn định cho một cuộc hành trình không kế hoạch, không đích đến. Bời từ khi cuộc sống cô bắt đầu, khi tim cô biết đập, cô đã không có gì. Và giờ, khi tim cô biết hòa nhịp, cô tin mình có thể tìm lại được tất cả những thứ đánh đổi, chỉ cần cô không từ bỏ. Một cuộc chinh phục mới. Đó là cuộc sống của một con chim sẻ, bất diệt và vững chãi.
Agnes tựa nhẹ vào người anh, mọi thứ đang ấm dần lên.
.
Xe lửa dừng lại ở một sân ga, nơi mà cả hai thậm chí không biết vé đến của mình là nơi nào. Hai người bước xuống tàu. Xe lửa tu còi tiếp tục cuộc hành trình, hai người họ cũng vậy.
Cả hai tiến vào thành phố. Một thành phố nhỏ náo nhiệt dần hiện rõ nét từ những cử động nhẹ nhàng sau một đêm yên tĩnh. Tất cả đón chào một ngày mới bằng một không khí vui tươi. Những cử động nhỏ làm huyên náo khắp lối: xe bò, xe ngựa đua nhau chở người, chở hàng, lưu thông từ lúc thưa thớt trong ánh sáng mờ đến tấp nập khi mặt trời lên cao, dòng người qua lại xôn xao chào hỏi, tiếng đập kim loại đanh tai trong những lò rèn rực lửa, mùi bơ thơm phức từ những lò bánh thoảng cùng mùi khói của những cái lò than.
Agnes và Darrel dừng chân dùng bữa sáng ở một tiệm ăn nhỏ. Bữa sáng của họ cũng hòa theo nhịp điệu hài hòa nơi đây. Đó là những chiếc bánh mì dài kiểu Pháp, một đĩa thịt xông khói rưới mật ong, một ít trà có vị của quả mận và, một cuộc trò chuyện.
– Đoán xem ta đang ở đâu nhỉ?
– Thị trấn Golden Bowl – Agnes trả lời tự tin.
– Em chắc chứ?
– Có biển tên vùng trước khi ta bước vào đây mà. Và nếu anh không xác định được điểm dừng của con tàu là đâu, thì ít nhất cũng biết được cái tên ghi trên vé, anh ngốc.
– Ừ nhỉ. – Darrel tự cười bản thân.
– Chúng ta sẽ cần một tấm bản đồ về vùng đất mới này.
– Đề làm gì? – Darrel vừa nhai nốt một mẩu bánh mì, anh cười lớn và nói tiếp – Em yêu, chúng ta sẽ cần một con ngựa thay vì là một tờ giấy. Một con ngựa đi đường trường. Anh nghĩ mình cần tìm đường đến trại bán ngựa nhưng không nhất thiết là một tấm bản đồ. Cuộc hành trình không xác định đích đến thì bản đồ là thứ cản trở mục tiêu.
– Chẳng phải nơi này cũng rất tuyệt sao?
– Em không định chôn chân nơi đây chứ? Tuy nơi đây khá xa thành phố nhưng một khi xe lửa có thể ghé qua tức là còn trong tầm ngắm của gia đình anh. Áp lực và địa vị ngăn cách ta, nhưng anh tin tình yêu mình đủ lớn để cho ta nghị lực suốt quảng đường tiếp theo – Anh ân cần nói – Có thể sẽ phải vất vả, em yêu à. Nhưng ta cần đi xa hơn nữa, một nơi tự do mà chính ta cũng không xác định được lối về.
Agnes gật đầu đồng ý và âu yếm nhìn anh.
Darrel tiếp tục nhấm nháp mẫu bánh mì trên tay một cách ngon lành. Anh để mặc ánh nhìn của cô và cứ thế vô tư dùng bữa. Một ý nghĩ lại chợt đến trong Agnes. Đôi mắt tinh ranh bổng trở về với suy tư sau cái nhìn hạnh phúc, và nó lại phá vỡ cái không khí yên bình, ấm áp lúc này.
– Anh yêu, anh còn có cha. Anh có nghĩ rằng có thể ông Green đang rất lo cho anh? – Agnes khẽ khàng hỏi nhỏ.
Darrel bất chợt ngước lên nhìn cô nhưng lại nhanh chóng đưa mắt sang hướng khác, lơ đãng, nét mặt cau có.
– Cha anh à? Nếu ông ta thật sự coi anh là con. Vinh hạnh thật đấy, là con trai nhà Green hay một tù nhân không hơn không kém? Anh không muốn đi theo cọ rửa cho cái mác hư vinh của ông. Bây giờ ông cho người đuổi theo tìm anh cũng chỉ đề dấy lên cái chấn động khắp vùng, đề người ta nghĩ rằng ông vừa lo lắng. Anh không tin ông ta chẳng biết gì về sự chán ghét và kế hoạch bỏ trốn của chúng ta. Ngoài chuyện đó ra, anh thật tình không thể hiểu sự kìm cập quá mức với một đứa con trai đã lớn là để làm gì, ngoài việc muốn nó tự bỏ đi cho khuất mắt – Darrel nghiến răng khinh miệt hết sức có thể.
Anh lại quay về đáp ánh nhìn của Agnes, cố thôi đi thái độ căm ghét dành cho cha mình. Anh không ngăn mình tỏ rõ thái độ được. Cứ mỗi khi nói về nó, những ý niệm anh tự khắc trong tâm trí mình bật ra như một bài thơ, bài vè. Những điều như thế này thật sự làm người ta mất hứng. Darrel cố đặt nhẹ mẫu bánh mì còn ăn dở tay trở lại đĩa.
Không gian im lặng đến nặng trĩu người, bỗng Darrel phì cười, cười thật thoải mái, thật mỉa mai.
– Đáng thương cho những con người ngu xuẩn tự giam mình em nhỉ. Dù sao đi nữa, anh đã được tự do, cha cũng vậy, rảnh được một thằng con chống đối như anh. – Rồi Darrel hạ giọng sau tiếng cười.
.
Bữa sáng của hai người họ kết thúc như thế. Họ tiếp tục cuộc hành trình sau khi vào trại ngựa và trở ra với một người bạn đồng hành mới. Đó là một con ngựa đen với cái bờm dài, tai vễnh cao và bốn chân săn chắc như những cây trụ đá, mang những cái móng sắt bóng toanh, mới cứng. Trông anh chàng lãng tử với bờm và lông đuôi đen dài. Họ gọi anh là Russal.
Trước khi rời thành phố, Agnes chuẩn bị một giỏ thức ăn dự trữ cho những ngày dài phiêu bạt. Darrel thì đang cố kết thân với người bạn đồng hành mới. Họ rời khỏi thành phố và đi theo hướng mà xe lửa đã đưa họ đến để tránh không vô tình quay về nơi xuất phát. Họ cứ đi dọc theo con đường mà mình đã chọn, đi qua những thôn xóm xa lạ, những cánh đồng hoang vu và khi đến những ngã rẻ, họ không ngó những bản chỉ tên đường, mà cứ rẻ sang bất kỳ hướng nào mình muốn.
Hai người cứ đi mãi, lúc mệt thì ngồi nghỉ dưới tán cây, hay dừng chân ở một quán nước nhỏ bên đường trong khi Russal dùng bữa ở đám cỏ cạnh bên, khi đói thì dùng lương thực đã trữ sẵn và khi đến những thành phố, thôn, trấn thì lại mua đầy túi lương thực ấy. Họ có mang theo những chiếc áo ấm dày để chống chọi với cái lạnh tháng Mười hai, vài ba hộp diêm, hai cây dao xếp, đôi ba thứ linh tinh khác bên người và một tấm lều to dựng làm chốn ngủ qua đêm ở những nơi không có quán xá. Kế hoạch của họ là duy trì cuộc hành trình không đích đến này cho đến khi họ cảm thấy đủ xa, đủ mệt, hoặc khi tìm ra được nơi mình thật sự thấy thuộc về. Đó sẽ là lúc cặp đôi trẻ bắt đầu một cuộc sống mới. Một sự thay đổi mới.

