Shaggar tóc vàng
Người đàn bà tên Fidelma đang đợi chúng tôi trong căn phòng trà với rèm cửa màu hồng dâu tây. Căn phòng trang trí theo kiểu Châu Âu, với chiếc bàn trà hồng phấn làm chỗ đặt cho một bộ ấm chén màu cánh sen, bên cạnh người phụ nữ trong bộ đồ màu hoa phượng. Ấn tượng đầu tiên của tôi, rõ ràng là bà ấy thích màu hồng, cái màu của con gái trẻ. Rồi tôi thấy bà trông như một con cáo với khuôn mặt dài, cổ to và đôi mắt nâu hổ phách. Bà không có nét nào giống một người phụ nữ yếu đuối. Một cô bé mở cửa sổ ra. Tôi thoáng giật mình. Người này trông như được gửi xuống từ hoàng hôn trước ban đêm. Màu mắt và tóc của bà trông như hòa được ra ngoài cửa sổ. Fidelma tóc đỏ.
Bà gật đầu. Giới thiệu tên tuổi là việc đơn giản nhất tôi có thể làm. Bà không thuộc nhóm những người thân thiện và thích vòng vo.
“Vậy anh đến đây là vì thằng bé mà chồng tôi không muốn để lại cho chúng tôi à?” Người đàn bà góa phụ đó nhìn tôi và hỏi. Tôi gật đầu lưỡng lự. Tôi chỉ muốn bàn chuyện. Bà ấy nhìn xuống ly trà còn nguyên của tôi và nói:
“Cậu uống đi, căng thẳng làm gì. Chỉ là chuyện một thằng nhóc.”
“Vâng. Tôi xin phép hỏi vậy, tại sao chồng bà không muốn để bà nuôi nó?”
“Vì tôi không yêu nó.”
Tôi nhìn bà. Đó là câu trả lời mà tôi ít mong đợi nhất. Tôi chuyển tư thế ngồi.
“Tại sao thế ạ?” Tôi cố hỏi làm sao để không vượt quá phận sự mà vẫn không khiến bà khó chịu. Nhưng có lẽ tôi đã làm điều đó rồi.
“Nó một mực cho rằng tôi không thương cha nó. Điều đó ngấm vào máu thằng bé từ lâu rồi.” Bà ấy nhìn vào cái ly và coi bộ đang tự nhìn mình trên đó.
Tôi nói chuyện với Fidelma thêm một lúc và đi gặp Anselm. Thằng bé nhìn tôi ở ngoài sân vườn, nhìn tôi trên hành lang. Nhưng khi nó gặp tôi, nó lại khẳng định rằng thậm chí nó không biết tôi đến nhà nó.
“Anselm, cậu có buồn không? Khi cha cậu mất.” Tôi hỏi thằng bé, ra vẻ là một người anh cả tốt, cốt để nó thích tôi.
Thằng bé có tóc vàng hoe nhìn tôi rất sâu, và gật đầu lưỡng lự. Tôi đặt tay lên vai nó. Anselm mở to mắt. Như những gì đã nói trong bệnh viện, tôi thực sự thấy nó nhìn giống thằng bé trong tưởng tượng của tôi, một cậu thiếu niên da trắng, môi tái, tóc vàng, gầy. Có điều Anselm mặc áo thun mỏng không có ống tay, khoét cổ sâu bên trong một chiếc áo khoác cho đàn ông trưởng thành màu lam dài đến đầu gối, khiến tôi có ấn tượng rằng mắt thẩm mỹ của nó vô cùng tồi. Anselm có một vết sẹo dài kéo sọc xuống tận lưng áo. Nó biết vì sao tôi ở đây, vì sao tôi đến gặp nó. Tôi đoán cha nó đã nói cho nó biết trước khi ông chết. Những người trong nhà kể, nó là đứa con mà Hubert thương yêu nhất, là đứa ông tin tưởng nhất, ông chưa từng giấu nó điều gì. Ông coi nó như bạn thân nhất của ông. Hai người con trai còn lại của ông đều đang làm việc ở nước ngoài và vừa về cách đây ba tuần vì bệnh tình của cha. Và cũng để lo liệu đám tang hai tuần trước. Họ cũng không ưa gì thằng nhỏ, tôi nhận thấy trong mắt họ có sự e ngại và sợ hãi dành cho nó. Thêm nữa, cả ba cậu con trai đều không quấn quýt lo lắng gì tới Fidelma.
“Bà ấy là mẹ kế của mấy cậu đó. Mẹ ruột của Anselm chết vì sinh nó ra. Nó tự nói là nó bị nguyền. Tui chẳng tin đâu.”
Đó là những gì mà cô bé giúp việc nói với tôi, thay đổi hoàn toàn cách tôi nhìn nhận vấn đề. Tôi có thể biết rằng, thằng bé có gì đó không bình thường, khác với những gì Clara nói. Có nhiều thứ tôi vẫn chưa biết quá. Tôi chỉ biết, tôi cần nói chuyện với Anselm. Sau này, tôi muốn chăm lo cho nó. Tôi không rõ tại sao tôi lại nghĩ như vậy về nó, không rõ tại sao tôi lại muốn làm như vậy, nhưng mà tôi muốn nó. Cậu thiếu niên này có gì đó đặc biệt.
“Tôi bị nguyền thật.”
Đó là những gì thằng bé nói với tôi.
Hụt hẫng, tôi kéo nó ngồi xuống bên cạnh mình. Tôi nói với nó.
“Anselm, tôi không nghĩ vậy đâu. Nhìn tôi đi, Anselm.”
“Đừng gọi tôi bằng cái tên đó. Tôi không thích cái tên mà Fidelma đặt cho tôi.”
“Bà ấy đặt tên cho cậu à? Thế thì đâu sao đâu. Anselm là một cái tên đẹp.”
“Tôi không thích cái tên Fidelma đặt cho tôi đứng ngay trước họ của cha tôi. Khi tôi ra đời thì mẹ tôi chết mà không kịp đặt cho tôi một cái tên, bà ấy là em của mẹ nên đã tự cho mình quyền hành khiến tất cả mọi người phải gọi tôi bằng thứ danh từ mà bà nghĩ ra. Tôi không thích.”
“Thế cha cậu hay gọi cậu là gì?” Tôi nghĩ rằng nó muốn được gọi bằng cái tên nào đấy mà nó sẽ cảm nhận được sự yêu thương, tin tưởng, tôn trọng như cha nó đã từng. Tôi khích lệ nó nói tiếp.
“An-manu. Như thế, nhưng đừng gọi tôi giống vậy. Đó là cách để tôi nhận ra cha tôi. Ông ấy nói, khi nào còn yêu tôi thì còn gọi tôi như vậy. Anh thích gọi tôi là gì? Tôi muốn anh nghĩ cho tôi một cái tên, biệt danh. Hoặc anh có thể gọi tôi là Anselm. Anselm như ban đầu.” Thằng bé trầm ngâm, nghĩ ngợi một lúc khi nó cố gắng trả lời tôi.
“Shaggar. Tôi sẽ gọi cậu như thế.”
Thằng bé cố gắng cười, một nụ cười khích lệ. Shaggar ngồi trước mặt tôi, là một thằng nhóc luôn nghĩ rằng mình bị nguyền rủa. Tôi cười như một người vừa nghe xong bài phát biểu hay nhất trong cuộc đời anh ta. Tôi đứng dậy. Tôi quyết định, thằng bé này từ giờ là Shaggar. Shaggar tóc vàng. Thằng bé khoái được tôi gọi như thế. Tôi biết mình đã gặp một người bạn.
Sau này, khi đã trở thành một tác giả tiểu thuyết nổi tiếng, một người thông minh với thu nhập cao chót vót hoàn toàn nhờ nghiệp văn chương, tôi cũng không quên được câu chuyện đầu tiên của tôi, và Shaggar ngày hôm ấy.
Còn bây giờ, tôi quay lại với câu chuyện của tôi, về một thằng nhóc tóc vàng. Và cách tôi chăm sóc nó, cách nó trở thành bạn tôi.
Tôi cực kì thích cái cách mà thằng bé nói rằng, nó bị nguyền. Mặc dù tôi không hiểu vì sao nó lại nói như vậy. Đôi khi tôi thấy lo cho nó. Fidelma trông như thể vừa muốn trao nó cho tôi, lại vừa không muốn làm như vậy, khiến tôi và chị tôi bối rối. Trong khi ấy thì Giáng Sinh ngày một tới gần.
Giáng Sinh năm ấy thực là một kỉ niệm khó quên. Chúng tôi ăn tiệc tại gia đình Manuel cùng với mẹ. Bà nhận xét rằng họ như bạn của chúng tôi, những người bạn tốt sẵn sàng cho mình ngủ lại một đêm ấm cúng để tạo tình thiện chí. Thậm chí mẹ tôi còn nói rằng Shaggar là một đứa trẻ đẹp, và lễ phép, chăm chỉ. Mẹ thích những người không ăn chơi hay rơi vào tệ nạn xã hội. Đêm tiệc đó rất vui. Đồ ăn, thức uống, âm nhạc đều làm chúng tôi hài lòng.
Mười giờ tối, mọi người dọn dẹp bàn tiệc muộn sau khi thực hiện những nghi lễ cần thiết.
Mười một giờ, tôi nói chuyện với mẹ tôi và Fidelma về con trai bà.
Mười hai giờ, chúng tôi đều đang nằm trên giường và chuẩn bị cho một giấc ngủ hoàn toàn tốt đẹp và sẵn sàng cho sáng hôm sau.
Rồi tôi nghe thấy tiếng nhạc. Tiếng nhạc buồn và rõ như nước ngấm vào buồng phổi một kẻ chết chìm. Ngồi dậy một cách mệt mỏi, tôi kéo cửa sổ lại và thầm mong nhà hàng xóm đừng tiếp tục chơi nhạc vào ban đêm lúc mười hai giờ rưỡi như một phương thức kéo người khác ra khỏi giấc ngủ. Và tôi nhận ra, tôi nghe rõ. Tôi mong rằng mình sai rồi đi. Trong tiếng đàn, nhạc có tiếng cười.
Tiếng cười như cười trong một căn phòng rộng với bốn bức tường dày hoàn toàn phẳng bằng đá cẩm thạch. Tôi ngửi thấy mùi của sai lầm và tội lỗi. Tự nhủ rằng mình nhầm, nhưng có vẻ âm thanh lẫn lộn của tiếng nhạc ám ảnh và tiếng cười rú hét điên dại ấy to dần lên sau khi tôi đóng cửa sổ lại. Tôi tưởng như mình là một nhân vật nền xuất hiện ngay chương đầu để chết cho man rợ của một cuốn tiểu thuyết kinh dị. Tôi nhảy ra khỏi giường và bật đèn lên.
Âm thanh hỗn độn đó ngừng hẳn.
Tôi thở hắt ra, cảm tưởng như ai đó bóp nghẹn cổ họng, tôi thấy mình đang run. Ngồi thẫn thờ lên giường, tôi tự nhủ đó chỉ là tưởng tượng của tôi, rồi tôi mở cửa phòng ra, giải phóng không gian để tự làm mình thoải mái hơn. Tôi nằm xuống và cố ngủ lại. Sau khi tắt đèn, tôi lắng tai nghe.
Làm gì có tiếng gì?
Tôi yên tâm nhắm mắt ngủ lại. Tưởng như tiếng đàn cưa kéo ngay sau khi tôi sụp mí mắt vào lại vang lên. Tôi nhắm nghiền mắt lại. Nhưng nỗi sợ chiến thắng, tôi lại mở mắt ra. Tôi nhìn về phía cửa. Có người đứng đó.
Dáng thấp hơn tôi, nhỏ hơn tôi. Gầy hơn tôi nữa. Tối quá tôi chẳng nhìn thấy cái gì, cảm tưởng như nó là một cái bóng của nhiều đồ vật đổ vào nhau tình cờ tạo thành dáng người. Nhưng nó chuyển động. Đi về phía trái của cánh cửa, coi chừng như có ý định đi vào. Nó có một đôi mắt, hay gì đó trông như một đôi mắt, đỏ thẫm, chảy ra dài trên thứ gọi là khuôn mặt. Tiếng nhạc khi nãy một lần nữa trở nên rõ ràng, như phụ họa thêm vào bức chân dung sống của kẻ đang đứng trước cửa. Tôi ngồi dậy, sự sợ hãi khiến người tôi cứng lại. Tôi nắm lấy chăn.
Rồi mọi thứ ngừng bặt lại, tiếng nhạc, tiếng cười. Tôi giật mình. Khoảng mười giây sau đó, đèn phòng tôi bật lên và tôi lại nhìn ra phía cửa. Thực sự có người ở đó, đi vào, và hoàn toàn là người, trong ánh sáng của đèn điện. Chưa bao giờ tôi biết ơn Thomas Edison đến thế. Nó đi vào phòng tôi. Là Shaggar với mái tóc vàng của nó. Tôi vuốt mặt, hoàn toàn bất ngờ. Nó tới đây làm gì vào lúc mười hai giờ rưỡi như thế này?
“Anh chưa ngủ à?”
Thằng bé hỏi tôi. Tôi gật đầu và ra hiệu cho nó đi vào phòng. Nó ngồi lên cái ghế bên cạnh giường, nhìn tôi đăm đăm bằng con mắt nâu của nó.
“Sao cậu tới làm gì? Nửa đêm rồi đấy.”
“Tôi chỉ muốn hỏi anh có ngủ được không. Giáng Sinh năm nào chúng tôi cũng có khách. Mà vị khách trong năm nào cũng nói rằng ở đây dọa họ sợ và họ sẽ không bao giờ quay lại, nhưng nhất quyết không kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.” Thằng bé tì cánh tay lên mặt bàn và ngả đầu về phía đó.
“Chẳng có gì mà sợ cả.” Tôi quyết định nói dối trắng trợn. Nếu có bất kì ai nghe được thì cũng sẽ đều bảo tôi tâm thần nặng, hoặc xem nhiều phim. Chẳng có ai tin vào điều đó cả. Ngay bản thân tôi cũng coi đó như ảo giác.
Shaggar nhướn mày. Nó tin, nhưng cũng không tin.
“Anh đổ mồ hôi hột kìa.”
Tôi lau trán, nhìn nó và lắc đầu. Tôi không muốn nói chuyện với bất kì ai cả. Nhất là thằng bé. Tôi thấy nó quá giống với thứ mà tôi thấy ở cửa khi nãy, về phần dáng vóc và cái cách nó xuất hiện ở đó ngay sau khi mọi thứ ngừng lại. Tôi thậm chí còn sợ rằng, câu nói mà nó thường xuyên lặp lại ‘Tôi bị nguyền đấy’ là sự thật. Thằng bé nói chuyện với tôi một lát và đi ra khỏi phòng. Tôi tự an ủi rằng đó hoàn toàn là ảo ảnh, và Shaggar chỉ đơn giản là một thằng nhóc bình thường và hiền lành. Rồi tôi cố ngủ. Suốt phần còn lại của ban đêm, tôi không hề bị một âm thanh hay hình ảnh nào khác quấy rầy.

