Viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện”. (Văn học và nhân cách- Nguyễn Thanh Hùng)

Viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện”. (Văn học và nhân cách- Nguyễn Thanh Hùng)
Thích Theo dõi
Viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện”. (Văn học và nhân cách- Nguyễn Thanh Hùng)
5 (100%) 2 votes

Viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện”. (Nguyễn Thanh Hùng)

Bài làm

Văn chương muôn đời tựa như một mối giao hòa giữa cuộc sống và nghệ thuật, ngân lên tiếng đàn réo rắt của chuyện đời và chuyện văn. Những mảnh vỡ thủy tinh trong suốt nơi lòng sống được phản chiếu vào trang văn với cái nhìn nhiều chiều của tác giả. Ngôn từ nơi ngòi bút của người nghệ sĩ làm sống dậy, tái hiện cả một khoảng không thực tại mà có đôi khi còn thực hơn cả chữ “thực” ngoài kia. Có thể nói, văn và đời không thể tách rời nhau hệt như hình với bóng hòa thành một thể. Thế nhưng, chúng “đồng sinh” nhưng lại không thể “cộng tử”. Bởi lẽ viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện”. (Nguyễn Thanh Hùng).
Muôn đời, văn chương tồn tại giữa bước đi thăng trầm của thời gian, vẫn giữ nguyên vẹn giá trị vốn có của nó trong hiện thực xã hội xô bồ, nhốn nháo. Người ta say đắm thế giới ngôn từ như say một thứ rượu quỳnh tương vừa dịu nhẹ vừa nồng nàn. Giữa những nhịp đàn vút cao trên bầu trời nghệ thuật, “những đứa con của đời” ngật ngưỡng bước, lang thang đi tìm ngôi nhà chung phù hợp với nó. Vùng đất riêng ấy mang tên “truyện ngắn”, nó chứa chan những cung bậc cảm xúc chân thành nhất, tha thiết nhất dù cũng lắm khi đầy đớn đau và nước mắt…
Dưới cái nhìn thực tế của nhà văn, truyện ngắn ra đời như một bản ghi chép cuộc sống, dựng lại toàn bộ những sự kiện đã và đang diễn ra nơi xã hội đương thời.
Nó là những trang viết gắn liền với đời sống nên ít khi thiên về tính chất trữ tình. Đa phần cảm xúc của nhà văn ẩn nấp phía sau nỗi đau đời khiến độc giả rơi lệ.
Truyện ngắn còn có thể hiểu là tác phẩm văn xuôi, kể về những chuyện bình dị thường ngày với dung lượng gói gọn trong quy tắc cụ thể chứ không miên man nói về những anh hùng giả tưởng như sử thi hay trường ca dai dẳng.
Mỗi nhà văn đều có riêng cho mình một vùng đất để “ngự trị” mà ở đó, anh phải hoàn thành sứ mệnh chân chính, cao cả của người cầm bút. Sáng tác văn chương nói chung hay truyện ngắn nói riêng không đơn thuần là viết vài dòng chữ, họa vài chi tiết sơ sài. Hành trình khẳng định giá trị thực sự còn kéo dài đến lúc người đọc tiếp nhận nó. Vậy nên, văn cốt yếu phải in sâu vào tâm trí bạn đọc, khắc vào trái tim và sống cùng những suy tư, trăn trở. Muốn thế, nhà văn không thể cầm bút với cái nhìn một chiều và tác phẩm thực chất không thể đồng nhất, phiến diện hay được phơi bày rõ rệt như mặt nước trong nhìn thấy đáy. Cái đọng lại ở bề sâu đôi khi là viên ngọc lấp lánh nơi dòng sông ngôn từ.
Viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện” (Nguyễn Thanh Hùng). Mọi sự kiện trong cuộc sống không thể bị cạn nguồn và nghệ thuật của văn chương không bao giờ là cùng tận. Thiên chức của người sáng tạo là phản ánh cuộc sống “muôn hình vạn trạng” nhưng tuyệt đối không thể để nó đi vào quên lãng như chuyến tàu vụt qua một lần trong tâm hồn mỗi con người. Nhà văn khi viết nên tác phẩm phải dựa vào khía cạnh nào đó mà anh quan tâm, nhưng hơn hết, phần đọng lại sau khi cánh cửa hiện thực đóng khép mới thực sự là nội lực bên trong “đứa con tinh thần” ấy. Vấn đề “hết chuyện là hết văn” lại trở nên nguy hại, làm chết cả mạch cảm xúc đang thôi thúc, sục sôi. Phải chăng khi hết một chu trình cuộc sống hay kết thúc một sự kiện nào đó, nhà văn buộc phải dừng bút? Thế thì còn gì là văn chương nữa, nó đã trở thành quyển nhật kí hay cuộn phim chụp ảnh mất rồi…Không thể giết chết số phận tác phẩm khi mà nó đang phập phồng hơi thở…Sự việc kết thúc có khi chỉ là một điểm mốc trưởng thành của nó, mà chính tại nơi này, nó được tự mình phát huy năng lực tiềm tàng, khơi sáng những ý nghĩa đọng ở bề sâu. Nói cách khác, truyện ngắn phải gây tiếng vọng từ tầng sâu lớp giấy, đưa đến trước mắt độc giả những dòng chữ (có khi là triết lí hay lời nhắn nhủ, thông điệp…) như ẩn như hiện trong tâm thức người tiếp nhận.
Ngược lại, khi tác giả nhấc bút khỏi trang văn không đồng nghĩa câu chuyện đời xuất hiện dấu chấm. Nhà văn buộc phải thực hiện nhiệm vụ cao cả của chủ thể sáng tạo, nghĩa là phải nhất định hoàn thành tác phẩm. Nhưng văn chương là “ý tại ngôn ngoại”, những điều đáng quý nằm ngoài lời văn. Ta không thể đánh đồng, hợp nhất giữa văn và chuyện, giữa ngôn từ quyết định dung lượng tác phẩm cùng với sự vật, sự việc đang hiển hiện và không ngừng biến đổi. Trang văn buộc phải có đích đến và nhà văn cũng luôn mang bên mình chủ đích sáng tạo. Việc viết văn đôi khi vượt thoát khỏi cái gò bó, khổ chật hẹp của trang giấy mà vụt lên bầu trời nghệ thuật. Mà ở đó, một câu chuyện mới lại được bắt đầu…Hết văn nhưng không hết chuyện cũng là vậy cả!
Mỗi nhà văn như chú ong chăm chỉ bay qua vườn đời mà góp nhặt nên những mảng cuộc sống hòa vào câu chữ. Anh không bao giờ là nhà văn khi mà trái tim thôi rên rỉ, thôi nhức nhối, đôi mắt thờ ơ mà không chút rướm lệ…Cuộc đời vốn dĩ không bình yên như bức tranh hồng mà họa sĩ nào đó vẽ, nó cũng không du dương, êm dịu như một bản đàn người ta vẫn thường tán thưởng. Cõi nhân sinh hiện lên hệt như đại dương nơi tâm bão, sóng gió dồn dập tấn công, đẩy dạt con người vào bãi cát khô cằn đầy những sỏi đá và bùn nhơ. Chẳng ai đoái hoài đến nó, lướt qua nhau để không lỡ chuyến tàu đêm bon chen, đông nghẹt…Anh dừng chân bên bến ga với một ngòi bút, lặng thầm thu trọn nhịp sống vào trái tim đang rộng mở, đón gió mới vào lòng ngực căng tràn…Trang văn kia là sản phẩm của những năm gió bụi. Thế nên nó chắc chắn không dừng lại ở hai chữ: “truyện ngắn” tẻ nhạt, vô vị. Ẩn đằng sau nó là một kho báu chăng? Vâng, có thể lắm chứ. Khi con người ta đã nếm đủ nhưng mảnh chai oan nghiệt, cảm nhận cái đau cắt sâu da thịt, họ sẽ chẳng dám quên đâu, có khi vết thương ấy chính là dấu triện trong lòng ấy chứ! Khuất lấp phía sau trăn trở, suy tư, anh đau đáu mãi về những kiếp nhân sinh, lắng lòng mình vào lặng yên cũng như lắng sâu “đứa con” của mình dưới đại dương của những chiêm nghiệm, triết lí sâu xa…
Truyện ngắn vì thế mà phải chứa những khoảng trống, những cánh cửa còn phong kín để người đọc được tự thân giải mã, tìm kiếm cho mình một câu trả lời mà có lẽ, mỗi bí ẩn là một rương báu quý gấp vạn lần.
Nếu ví những chỗ bỏ dở ấy là những viên kim cương chưa được tìm thấy thì những gì hiện hữu trên bề mặt trang giấy là bản đồ chỉ dẫn bạn đọc đến nơi cất giữ chúng. Dòng chữ thực kia lại chính là kí hiệu dự báo về tầng sâu ý nghĩa. Nam Cao khi đến với văn đàn cũng ôm ấp giấc mơ sống cùng thời gian mà những chi tiết, hình ảnh nơi tác phẩm lần lượt nói lên tất cả. Bằng giọng văn lạnh lùng, sắc sảo, tác giả thẳng tay lên án, tố cáo xã hội đương thời đã đẩy con người vào vực sâu của bóng đêm, của cú trượt dài trên đà tội lỗi. Chí Phèo phải hứng chịu bao nỗi trái ngang, oan nghiệt để rồi chính hắn cũng đã gây tổn thương cho bao người dân vô tội. Cái ác kéo dài mãi cho đến khi hắn gặp Thị Nở…Và thế là lương tâm hắn lên tiếng kêu đòi lương thiện: “Tao muốn làm người lương thiện… Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa…”. Hắn đã vụt mất một đời con người, cái tuổi xuân xanh xủa hắn đã tồn tại như một cá thể bị tách biệt khỏi cộng đồng, trong thái độ dửng dưng, vô cảm của những người cùng chung sống…Chí Phèo ra đi khi chỉ còn một bước chân nữa là đến cánh cửa hoàn lương…Liệu rằng cái chết ấy sẽ là kết thúc cho kiếp người dở dang hay lại mở ra một câu chuyện mới lại bắt đầu?
Nhà văn cố dựng xây chuỗi dài liên kết giữa các thế hệ tàn lụi, Chí Phèo mất đi và để lại cho đời mầm mống, hình bóng của mình. Rồi sẽ có một Chí Phèo con ra đời nơi cái lò gạch cũ phủ bụi thời gian cùng dự kiến tương lai chẳng mấy tốt đẹp, vẫn lại triền miên trong men say và nỗi đau bị tha hóa. Kết thúc truyện ngắn chẳng theo quy luật mở- kết, mà ở đây, “người cầm bút thiên tài” ấy đã mở luôn những ý văn lấp lửng, không có mấu chốt của sự dừng lại. Thế “hết văn” nhưng không “hết chuyện” là vậy chăng? Song hành với đó là khả năng tái tạo, tiếp nối tầng sâu ý tứ, triết lí khi câu chuyện vừa đóng khép. Nam Cao đã dùng bút lực tuyệt đối của mình để tạo ra hai luồng ánh sáng soi rọi nền văn chương Việt Nam. Thế mới thấy, rõ ràng, viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện” (Nguyễn Thanh Hùng).
Khép lại tập truyện ngắn là khép lại cả cuộc đời nhân vật. Tuy nhiên, nó không chết và sẽ không bao giờ chết, nó vượt qua “mọi sự băng hoại của thời gian” để tồn tại song song trong tâm thức độc giả. Người ta nhìn thấy đâu đó thực trạng của xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân, nghe những tiếng kêu đau thương, mất mát của những kiếp người lầm than. Câu chuyện văn chương kết thúc để mở ra cốt truyện của đời sống, của những nghĩ suy và chiêm nghiệm…Ta bất chợt miên man theo những nỗi đau đời dai dẳng, giọt nước mắt ta rơi khi ta cảm nhận rõ từng chút một sự suy tàn của cả một thế hệ, cho những lương tri thanh cao bị kéo tụt xuống vũng bùn nhân thế. Khả năng đồng sáng tạo nơi bạn đọc khởi phát lên từ đó, từ những thuở câu chuyện ngập ngừng cùng cảm giác tò mò về kết cục. Nó buộc ta phải tự đắn đo, tự viết tiếp câu chuyện mà cái kết tùy thuộc vào mỗi người, tùy vào thời đại và thế giới quan của người viết đối với xã hội. Câu chuyện viết văn là chuyện muôn đời, là chặng đường mang tính nối kết, kéo dài, nơi đó, nhà văn là người tiên phong sáng tạo còn bạn đọc là người thừa hưởng và phát huy.
“Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống” (Nguyễn Minh Châu). Văn chương nói chung và truyện ngắn nói riêng đều phải tham gia trực tiếp vào cuộc sống này, chen vào những bất ổn, xô bồ mà giao tiếp với bạn đọc, tiếp diễn chuyện đời, chuyện văn giữa những mảng đen hiện thực. Nhà văn tìm thấy chất ngọc trong cuộc đời đen bạc, truyền cho nó thứ ánh sáng đọng ở bề sâu. Như nguyên lí tảng băng trôi, bảy phần tám ý nghĩa tư tưởng nằm phía đáy đại dương, còn một phần trên mặt biển chỉ là bản ghi chép sơ lược, là nền tảng, cơ sở hay bước đệm để chuẩn bị cho tầng tầng triết lí. “Ông già và biển cả” của Hêmingway là một ví dụ điển hình. Lão Santiago trong chuyến đi câu thực chất lại là hình ảnh con người đang săn tìm, miệt mài khám phá với khát khao làm chủ tạo vật, mong cầu tài năng cá nhân được công nhận…Và tác phẩm ấy vẫn còn sống đến hiện nay mà mỗi khi người bạn chạm đến, nó lại phát ra một luồng sáng mới, nó luôn sẵn sàng cho mọi suy luận mới lạ.
Truyện ngắn không bao giờ ngừng lại trên con đường khơi dậy ý tưởng nơi độc giả. Một tác phẩm chào đời là hàng loạt các suy nghĩ được hình thành. Nhà văn càng tài năng càng muốn tập cho “đứa con của mình” thứ tiếng nói ngập ngừng, lấp lửng. “Bất kì vấn đề nào bạn có thể bỏ mà bạn biết rõ về nó thì nó vẫn hiện diện trong tác phẩm với hết thảy những phẩm chất, đặc điểm. Khi nhà văn bỏ qua những gì anh ta không biết, điều ấy sẽ phô ra những lỗ hổng trong truyện” (Hemingway). Khoảng trống ấy nhất thiết phải là những ý nghĩa ẩn sâu, nó không thể là cái che lấp cho sự kém hiểu biết…
Nguyễn Minh Châu thực sự xứng đáng là người phất cờ tiên phong cho công cuộc đổi mới nền văn dân tộc. Đa phần các tác phẩm của ông đều có sẵn cánh cửa mở cho sự đồng sáng tạo. “Chiếc thuyền ngoài xa” đã gây tiếng vang lớn trong giai đoạn văn chương khi hòa bình lập lại. Cái tài của người cầm bút thể hiện ở cuộn phim chụp lại khoảnh khắc bình dị trong đời sống nhưng còn lắm rối ren, bất hạnh. Trước hết, đó là sự bắt gặp cảnh bạo lực ngay trên vùng đất mà dân tộc đã từng đổ máu giành độc lập. Tuy nhiên, câu chuyện không đơn thuần vẽ nên sắc màu u tối của xã hội đương thời. Phía sau đó là cả một bầu trời lắng sâu, với những suy nghĩ, chiêm nghiệm mà tác giả gửi gắm qua hệ thống nhân vật của mình.
Cuộc sống không còn hiện lên theo một chiều mà nó lẫn lộn, hỗn tạp giữa rồng phượng và rắn rết, sự tốt đẹp và những cái xấu xa. Nhà văn phải tìm ra cái ác bên trong bức tranh tô hồng cũng như tia sáng trong tâm hồn những phận người tưởng chừng đang chìm vào bóng tối. Nghệ thuật luôn phải gắn liền với cuộc sống, gắn với con người mà hơn hết, nhà văn gióng lên hồi chuông báo động cho sự thay đổi lối mòn của văn chương nghệ thuật. Người cầm bút một khi viết nên trang văn phải có cái nhìn nhiều chiều, có con mắt tinh tường khi quan sát thế giới khách quan. Tác giả nêu lên quan niệm về mối liên hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, không đồng nhất, hòa làm một mà cũng chẳng tách rời, riêng biệt. Kết thúc tác phẩm vẫn là một lối mở, tạo khoảng trống cho bạn đọc trăn trở và viết tiếp câu chuyện đang còn dở dang. Có thể, vấn đề bạo lực sẽ được giải quyết theo nhiều biện pháp tốt hơn thay vì cách áp dụng lí thuyết của nhân vật Đẩu…Hoặc có thể nó sẽ tiếp diễn, người đàn bà vẫn sẽ cam chịu, hy sinh cho những đứa con…Đó là khoảng lặng cho người đọc tự mình tham gia sáng tác. Chính điều này tạo nên khả năng đồng sáng tạo giữa hai luồng ý kiến của người cầm bút và người tiếp nhận.
Viết truyện ngắn đều phải kiêng kị hai điều: “Hết chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện” (Nguyễn Thanh Hùng). Câu chuyện về cuộc sống con người nơi làng chày đã khép lại nhưng những tiếng vang của nó vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc. Nó gợi dậy cả những cung bậc cảm xúc, những suy tư về số phận con người. Ẩn sau đó là những tiếng nói, những khát khao hạnh phúc trọn vẹn cả vật chất lẫn tinh thần. Để rồi sau đó, mảnh vỡ trong truyện tan ra, hòa vào cuộc đời, bước đi song hành cùng độc giả. Có thể nói, Nguyễn Minh Châu là ngòi bút tài hoa trong bước đầu phát triển của nền văn xuôi hiện đại. Nhân vật của ông tồn tại qua nhiều tầng lớp ý nghĩa chứ không đơn thuần là hình tượng một chiều, phiến diện. Văn chương muôn đời như tảng băng chìm dưới lòng sâu đại dương, cái hay của nó nằm nơi lòng biển mà người đọc như người thợ lặn miệt mài với công việc khám phá tận cùng.
Suốt chặng đường sáng tác văn chương, nhà văn tìm cho mình những nốt trầm trong bản hòa tấu muôn ngàn giai điệu. Tiếng đàn lắng sâu lại trong mạch cảm xúc tuôn trào như một điểm dừng chân mà ở nơi đó, độc giả được sống lại với tiếng gọi của tâm hồn đang còn trống trải. “Nghệ thuật viết là nghệ thuật rút gọn, điều gì chưa nói thì người đọc sẽ nói” (Sekhop). Muôn đời, ngòi bút của tác giả nâng lên đôi cánh sáng tạo cho người tiếp nhận…Ngay cả Sekhop cũng đã dành trọn cuộc đời mình cho văn chương, say đắm vào thế giới ngôn từ mà dường như cũng mang theo một cấu tứ lấp lửng quen thuộc. Tác phẩm “Người đàn bà có con chó nhỏ” xuất hiện trên văn đàn như một bản tình ca không trọn vẹn. Cả hai tâm hồn vụn vỡ trong hôn nhân tìm đến với nhau nhưng lại phải hứng chịu luồng dư luận khủng khiếp cùng sự e ngại vì hai tiếng “ngoại tình”. Hai nhân vật chính Gurov và Anna đều không được sống tự do bởi những hạn chế, bó buộc trong gia đình, nghề nghiệp…Thông qua đó, tác giả gửi gắm hàng loạt các giá trị nhân sinh, quan niệm đúng đắn về hạnh phúc. Xã hội nước Nga như một nhà tù ràng buộc con người vào những “cái hộp của tâm hồn”, họ không thể thoát khỏi sự cô độc để vượt lên rào cản. Càng bị nô lệ bởi chính bản thân mình, họ càng khát khao vẫy vùng nhưng có chăng cũng chỉ là ước mơ xa vời, mờ nhạt. Dưới chế độ ngột ngạt của đất nước, con người buộc phải chọn duy nhất một hướng đi mà mỗi quyết định đều kèm theo một sự trả giá. Liệu rằng, họ có đến được với nhau khi ngoài kia là bão tố cuộc đời, họ có thể vượt thoát khỏi những sợi dây vô hình ràng buộc cả hai? Nhà văn không nói và cũng chẳng định nói… Với thế giới quan khác nhau, bạn đọc hoàn tòa có thể dựng xây phần sau của câu chuyện. Chuyện chưa kết thúc và văn cũng chưa kết thúc dù đã đến trang cuối cùng của quyển sách. Nó tồn tại trong khả năng sáng tạo của người đón nhận, trong hướng suy nghĩ chủ quan qua nhiều thế hệ độc giả.
“Chi tiết là hạt bụi vàng của tác phẩm” (Pauxtopxki) nhưng chi tiết ấy thực chất chỉ nên là một nửa, một nửa kia nằm nơi tấm lòng bạn đọc. Văn chương mãi là quyển bách khoa toàn thư không có trang cuối. Tuy nhiên những khoảng trống ấy phải có mục đích nghệ thuật cụ thể chứ không phải là một sự thiếu hụt về hiểu biết. Tác phẩm thực giá trị phải mang trong nó ý nghĩa đọng ở tận sâu kín, nhà văn thực sự có tài chỉ khi anh mang đến một bầu trời bí ẩn cần giải mã. Thiên chức của nhà văn không chỉ là phản ánh cuộc sống ma còn phải cùng tái tạo cuộc sống với người đọc, với những tri âm, tri kỉ nhiều thế hệ…Có như thế, văn chương mới để lại dấu ấn khó phai, khẳng định vị trí trong khu vườn nghệ thuật của nhân loại…
Mãi mãi, quá trình sáng tạo văn học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng đầu tiên. Nó thực chất phải tiếp tục sứ mệnh của mình khi đến với người đọc, đồng hành cùng họ trong suốt chặng đường chinh phục tri thức nhân loại, khám phá thế giới. Vậy nên nó vừa là “đứa con” của tác giả cũng vừa là sản phẩm qua tư tưởng mới nơi độc giả. Hơn hết, nó phải đảm bảo đủ sự song hành giữa ngôn từ và hiện thực. Thế mới thực là một tác phẩm có giá trị.
Giữa những xô bồ nơi nhân thế, văn học xuất hiện như người bộ hành phiêu lãng, cất lên tiếng hát trong trẻo vút cao. Âm thanh đó ngân nga mãi, xua đi lớp bụi mờ của trần gian. Và lắm lúc, nó đi vào lòng người với nhiều âm giai da diết…Kì lạ thay, bài ca ấy không bao giờ ngừng lại…Anh hát li la li la…còn mọi người lại thay anh cất lên lời ca chưa trọn vẹn. Nó không kết thúc và cũng chẳng bao giờ kết thúc khi người ta cứ mãi vấn vương về nó. Điều kì diệu của văn chương cũng là như thế chăng?

Bài cùng chuyên mục

Ngân Hà

Ngân Hà (5 ngày trước.)

1 năm gắn bó cùng Vnkings

Level: 7

68% (34/50)

Bài viết: 11

Chương: 18

Bình luận: 124

Lượt thích: 60

Lượt theo dõi: 12

Tham gia: 21/02/2017

Số Xu: 689

Ngân Hà đã tặng 10 Xu cho Tác Giả.

Hay!


Vnkings.com

Thành Viên

Thành viên online: Thủy Ngọc Linh Phúc Gia Toàn Phan Trầm Mặc Kiêu Oanh Le Đồng Vũ Na Vân và 116 Khách

Thành Viên: 19555
|
Số Chủ Đề: 4023
|
Số Chương: 13201
|
Số Bình Luận: 25958
|
Thành Viên Mới: Na Vân